vanban.org

Bản án 887/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

228; Điều 273; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "TRẦN BÍCH O - NGUYỄN TUẤN T"
  • Tòa quyết gì? 228; Điều 273; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Hôn nhân và Gia đình điều chỉnh; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 887/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 04-5-2026
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Tuyết Mai.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Hoa.

Bà Trương Thị Hồng Phương.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khánh, Thư ký Tòa án nhân dân Khu

vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí

Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Huyền Trang – Kiểm sát viên

Ngày 04 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở của Tòa án nhân dân Khu vực 7 -

Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:

836/2025/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo

Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 265/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 3

năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 300/2026/QĐST-HNGĐ ngày 02

tháng 4 năm 2026 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Bích O, sinh năm 1992; địa chỉ thường trú: đường

Đ33, khu phố X, phường T (Địa chỉ cũ: đường T 16, khu phố X, phường T),

Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên lạc: đường D, xã H, Thành phố Hồ Chí

Minh. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Bị đơn: Ông Nguyễn Tuấn T, sinh năm 1989; địa chỉ: đường Đ33, khu

phố X, phường T (Địa chỉ cũ: đường T 16, khu phố X, phường T), Thành phố

Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 07 tháng 10 năm 2025 và trong quá trình giải

quyết vụ án nguyên đơn là bà Trần Bích O trình bày như sau:

Về hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Tuấn T chung sống với nhau, có đăng ký

kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số: 44/2011 quyển số: 01/2010 của Ủy

ban nhân dân phường T, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13 tháng 4

năm 2011.

Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất

đồng. Nguyên nhân là do mâu thuẫn, vợ chồng không có tiếng nói chung, ông T không đi làm phụ bà nuôi con, bà đã nhiều lần khuyên nhủ. Vợ chồng đã cố gắng hòa giải nhiều lần nhưng ông T vẫn không thay đổi. Vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 4/2024. Bà xác định hiện nay không còn tình cảm với ông T nữa. Nay nhận thấy không thể hàn gắn tình cảm nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn để ổn định cuộc sống riêng của mỗi người.

Về con chung: Bà Trần Bích O xác nhận cả hai có 02 con chung tên là

Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 15/12/2010 và Nguyễn Ngọc An N, sinh ngày 31/10/2021. Bà O yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung tên là Nguyễn Ngọc An N, sinh ngày 31/10/2021 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và không yêu cầu ông T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Bà O đồng ý giao con chung tên là Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 15/12/2010 cho ông T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và bà không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Bà Trần Bích O xác nhận không có nên không yêu cầu

Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà Trần Bích O xác nhận không có nên không yêu cầu Tòa

án giải quyết.

Bị đơn là ông Nguyễn Tuấn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần

nhưng đều vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Nguyên đơn là bà Trần Bích O có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn là ông Nguyễn Tuấn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần

để tự khai, tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng ông T đều vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh

phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng; bị đơn không thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể: Bà Trần Bích O được ly hôn với ông Nguyễn Tuấn T; về con chung: Bà Trần Bích O xác nhận cả hai có 02 con chung tên là Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 15/12/2010 và Nguyễn Ngọc An N, sinh ngày 31/10/2021. Giao trẻ tên là Nguyễn Ngọc An N cho bà Trần Bích O được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và giao trẻ tên là Nguyễn Tuấn A cho ông Nguyễn Tuấn T được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng cho đến khi một trong hai bên có yêu cầu; về tài sản chung: Không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết; về nợ chung: Không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm

tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử

nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 44/2011 quyển số: 01/2010 của Ủy

ban nhân dân phường T, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13 tháng 4

năm 2011 thì quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Bích O và ông Nguyễn Tuấn T là

quan hệ hôn nhân hợp pháp, được Luật Hôn nhân và Gia đình điều chỉnh.

Căn cứ đơn khởi kiện của bà Trần Bích O thì đây là tranh chấp về hôn

nhân và gia đình. Tại thời điểm nộp đơn khởi kiện, bị đơn là ông Nguyễn Tuấn

T thực tế cư trú tại phường T, Thành phố Hồ Chí Minh nên tranh chấp trên

thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Khu vực 7 - Thành phố Hồ

Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a

khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm

2025.

Về thủ tục tố tụng:

Toà án đã tiến hành tống đạt hợp lệ bị đơn ông Nguyễn Tuấn T đến Toà

để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và

hoà giải; tham gia giải quyết vụ án và tham gia phiên tòa xét xử vụ án (ngày

02/4/2026 và ngày 04/5/2026) nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Nguyên

đơn là bà Trần Bích O có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và

khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng

mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân:

Bà Trần Bích O và ông Nguyễn Tuấn T tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn

nhân, có đăng ký kết hôn vào ngày 13 tháng 4 năm 2011 tại Ủy ban nhân dân

phường T, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh nên quan hệ hôn nhân giữa bà Trần

Bích O và ông Nguyễn Tuấn T là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình

chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng do đó bà O yêu cầu

ly hôn.

Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ chung sống với nhau, yêu thương,

quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, cùng nhau xây dựng mái ấm gia đình, cùng nhau

chăm sóc, nuôi dưỡng con cái. Tuy nhiên, do bất đồng quan điểm sống, mâu

thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng không thể hàn gắn nên bà O và ông T đã ly

thân từ tháng 4/2024 đến nay. Bà O xác định không còn tình cảm vợ chồng với

ông T. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập

hợp lệ đối với ông Nguyễn Tuấn T đến Tòa án để tham gia phiên họp về việc

giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông T đều vắng mặt

không có lý do, cũng như không nộp cho Tòa án ý kiến hay yêu cầu của mình về

việc giải quyết vụ án, không cung cấp chứng cứ để xác nhận hoặc phản bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Theo khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Như vậy, ông T đã từ bỏ các quyền được pháp luật quy định. Nên Hội đồng xét xử căn cứ các tài liệu, chứng cứ bà Trần Bích O xuất trình để xác định ông T hoàn toàn không quan tâm đến yêu cầu ly hôn của bà O và cũng không đưa ra được biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng, không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Do đó, yêu cầu ly hôn của bà Trần Bích O là có căn cứ để chấp nhận theo

quy định tại các Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung:

Căn cứ giấy khai sinh số 141/2011 quyển số 01/2010 cấp ngày 19/5/2011

và số 402 cấp ngày 03/12/2021 của Ủy ban nhân dân phường T, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh cùng lời khai của bà Trần Bích O, xác định được: Cả hai có 02 con chung tên là Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 15/12/2010 và Nguyễn Ngọc An N, sinh ngày 31/10/2021.

Bà O yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung

tên là Nguyễn Ngọc An N cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và không yêu cầu ông T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Bà O đồng ý giao con chung tên là Nguyễn Tuấn A cho ông T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và bà không cấp dưỡng nuôi con chung do ông T không có yêu cầu.

Xét thấy, trẻ Nguyễn Tuấn A hiện nay đang ở cùng ông bà nội và ba, trẻ có

nguyện vọng muốn ở với ba để thuận tiện việc đi học. Đối với trẻ Nguyễn Ngọc An N hiện nay đang ở với mẹ, trẻ An N còn nhỏ và là bé gái, đang trong giai đoạn cần có sự quan tâm chăm sóc cẩn thận của người mẹ sẽ đảm bảo cho trẻ phát triển tốt hơn về mặt tâm, sinh lý.

Nhằm tạo điều kiện các trẻ được ổn định về chỗ ở, đảm bảo việc chăm sóc,

đảm bảo việc học hành hiện nay của trẻ, không bị xáo trộn về mặt tâm lý cũng như trong cuộc sống và căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của trẻ, Hội đồng xét xử giao trẻ tên là Nguyễn Ngọc An N, sinh ngày 31/10/2021 cho bà Trần Bích O được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và giao trẻ tên là Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 15/12/2010 cho ông Nguyễn Tuấn T được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Xét về nghĩa vụ cấp dưỡng: Do cả hai không có yêu cầu nên Hội đồng xét

xử không xem xét.

Về tài sản chung: Bà O khai không yêu cầu Tòa án giải quyết nên

Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Bà O khai không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội

đồng xét xử không xem xét.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Thành

phố Hồ Chí Minh về việc giải quyết vụ án về quan hệ hôn nhân, về con chung,

về tài sản chung và nợ chung là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí:

Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản

5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử

dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bà Trần Bích O phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng tiền án phí dân sự

sơ thẩm đối với tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Bà Trần Bích O đã nộp đủ

án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;

khoản 4 Điều 91; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 và khoản 3 Điều

228; Điều 273; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung

năm 2025;

- Các điều 51, 55, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình

năm 2014;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,

thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Bích O:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Bích O được ly hôn với ông Nguyễn

Tuấn T.

(Giấy chứng nhận kết hôn số: 44/2011 quyển số: 01/2010 của Ủy ban

nhân dân phường T, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13 tháng 4 năm

2011 hết hiệu lực).

- Về con chung: Bà Trần Bích O được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi

dưỡng, giáo dục con chung tên là Nguyễn Ngọc An N, sinh ngày 31/10/2021 cho

đến khi con chung đủ 18 tuổi. Ông Nguyễn Tuấn T được quyền trực tiếp chăm

sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên là Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 15/12/2010

cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Do cả hai không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử

không xem xét.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà

không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu của cha, mẹ; người

thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, hội liên hiệp phụ nữ, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi

con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

- Về tài sản chung: Bà O không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng

xét xử không xem xét.

- Về nợ chung: Bà O không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét

xử không xem xét.

2. Án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về hôn nhân và gia đình là

300.000 (Ba trăm ngàn) đồng do bà Trần Bích O phải chịu, được trừ vào 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0027190 ngày 16/10/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Đương sự đã nộp đủ án phí.

Bà Trần Bích O và ông Nguyễn Tuấn T được quyền kháng cáo bản án

trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ