- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - bà Châu T:
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Số: 883/2023/ HNGĐ-ST Ngày: 23-5-2023 V/v: “ Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Nguyệt
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Nhơn
2. Bà Nguyễn Thị Bính Thân
Thư ký phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Ngoan - Thư ký Toà án nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T tham gia phiên toà:
Bà Hồ Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 179/2023/TLST-HNGĐ ngày 06/02/2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 146/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/4/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 109/2023/QĐST-HNGĐ ngày 24/4/2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn:
Bà Châu T, sinh năm 1962 (có mặt)
Bị đơn:
Ông Nguyễn B, sinh năm 1958 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Phường 24, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn kiện cùng các lời khai của bà Châu T trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa thể hiện như sau:
Bà và ông Nguyễn B tự nguyện chung sống từ năm 1986, có đăng ký kết hôn và được UBND Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 06.P.13, quyển số 01.86, ngày 10/3/1986.
Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến năm 2010 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do ông B nghiện rượu, mỗi lần uống say ông thường kiếm chuyện chửi bới, nhục mạ bà và gia đình bà, đôi khi ông B còn dùng vũ lực. Ngoài ra ông B lại hay ghen tuông vô cớ, ông tự suy diễn ra mọi chuyện để chửi bới bà, bản thân bà và cả gia đình nhà chồng đã nhiều lần góp ý nhưng ông B vẫn không thay đổi. Không khí gia đình luôn ngột ngạt, nặng nề nhất là khi vợ chồng đối diện với nhau, đã từ rất lâu ông bà không còn nói chuyện với nhau, tuy sống chung nhà nhưng ông bà đã ly thân hơn 10 năm nay, mạnh ai lo cuộc sống của người đó.
Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, khả năng vợ chồng hàn gắn tình cảm vợ chồng là không thể nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông B.
Về con chung: Bà T khai bà và ông B có 02 người con chung tên Nguyễn Chí M, sinh ngày 23/10/1988 và Nguyễn Chí Q, sinh ngày 23/02/2000. Tất cả các con đều đã trưởng thành.
Về tài sản chung: Bà T và ông B tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết;
Về nợ chung: Bà T khai và ông B không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Phía bị đơn – ông Nguyễn B vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập lên tòa án làm bản tự khai, Thông báo tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa. Ông B trực tiếp ký nhận văn bản của Tòa án nhưng vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có bất kỳ ý kiến gì trình bày B văn bản gửi cho Tòa án.
Tại phần tranh luận:
Nguyên đơn không phát biểu ý kiến tranh luận.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử:
Thẩm phán xác định đúng quan hệ tranh chấp, đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Thẩm phán đã xác định tư cách tham gia tố tụng của các đương sự đúng quy định tại Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ nên vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho đương sự và Viện kiểm sát thực hiện theo đúng quy định từ Điều 170 đến Điều 181 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Tòa án tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ đúng theo quy định tại Điều 209, 210, 211 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, Tòa án không vi phạm về thời gian chuẩn bị xét xử theo quy định tại Điều 203 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Thư ký đã tuân thủ đúng quy định Điều 51 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng :
Đối với nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay bị đơn không thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 06.P.13, quyển số 01.86 ngày 10/3/1986 của UBND Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh, vì vậy quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông B là hôn nhân hợp pháp.
Nguyên đơn trình bày: sau khi kết hôn ông bà sống hạnh phúc khoảng 23 năm, đến năm 2010 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do ông B bị nghiện rượu mỗi lần uống say ông B thường kiếm chuyện chửi bới và dùng những lời lẽ nhục mạ bà và gia đình bà, đôi khi còn dùng vũ lực. Ngoài ra ông B lại hay ghen tuông vô cớ, ông tự suy diễn ra mọi chuyện để chửi bới bà, bản thân bà đã nhiều lần góp ý nhưng ông B vẫn không thay đổi. Không khí gia đình luôn ngột ngạt, nặng nề, tuy sống chung nhà nhưng ông bà đã ly thân hơn 10 năm nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông B.
Về con chung: Bà T và ông B có 02 người con chung tên Nguyễn Chí M, sinh ngày 23/10/1988 và Nguyễn Chí Q, sinh ngày 23/02/2000. Tất cả các con đều đã trưởng thành.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Bị đơn là ông Nguyễn B mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến và trình bày ý kiến về quá trình giải quyết vụ án. Ông Nguyễn B đã từ bỏ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Bởi các lẽ trên, đề nghị HĐXX:
Căn cứ Điều 56, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của của bà Châu T. Con chung đã trưởng thành; Tài sản chung tự thỏa thuận giải quyết, nợ chung: không có.
Về án phí sơ thẩm: Bà Châu T được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm theo
quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; nghe ý kiến của đương sự; nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T, thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Quan hệ tranh chấp giữa bà Châu T và ông Nguyễn B là tranh chấp về Ly hôn. Căn cứ khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Bị đơn – ông Nguyễn B có địa chỉ cư trú tại số 125/39 Bùi Đình Túy, Phường 24, quận T. Theo kết quả cung cấp chứng cứ ngày 06/3/2023 của Công an Phường 24, quận T, có cơ sở xác định ông Nguyễn B có hộ khẩu trường trú và hiện đang thực tế cư ngụ sinh sống tại địa chỉ trên. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận T.
. Về thủ tục tố tụng:
Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ bị đơn tham gia phiên tòa sơ thẩm xét xử lần 1 vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 24/4/2023 và lần 2 lúc 08 giờ 00 phút ngày 23/5/2023 nhưng bị đơn đều vắng mặt không lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành mở phiên tòa theo quy định.
. Về yêu cầu của nguyên đơn :
Quan hệ hôn nhân giữa bà Châu T và ông Nguyễn B được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được UBND Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 06.P.13, quyển số 01.86, ngày 10/3/1986, nên xác định đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Qua các lời khai của bà T có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa hôm nay, đều khẳng định tình trạng hôn nhân giữa bà và ông B đã đến mức trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn. Nguyên nhân chính do bất đồng quan điểm sống, ông B là người nghiện rượu mỗi khi uống say ông lại chửi bới, nhục mạ bà đôi khi ông còn sử dụng vũ lực với bà. Bà và gia đình ông đã nhiều lần góp ý, khuyên nhủ nhưng ông B vẫn không thay đổi. Do không giải quyết được mâu thuẫn nên ông bà đã sống ly thân hơn 10 năm nay, mạnh ai lo cuộc sống của người đó dù vẫn ở chung nhà. Bà xác định, hiện bà không còn tình cảm gì với ông B, cả hai luôn tìm cách hạn chế để phải đối diện với nhau.
Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ lúc thụ lý vụ án cho đến thời điểm xét xử, Toà án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ ông Nguyễn B đến Toà án để giải quyết vụ án theo qui định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng ông B đều vắng mặt không có lý do. Trong đó có hai lần triệu tập hợp lệ ông B đến Tòa để Tòa án tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đoàn tụ, ông B đã trực tiếp ký nhận văn bản của Tòa án nhưng cũng không có bất cứ ý kiến phản hồi gì B văn bản đối với yêu cầu khởi kiện của bà T. Điều này thể hiện, ông B thực sự thờ ơ không còn quan tâm đến tình trạng hôn nhân giữa ông và bà T, không có thiện chí giải quyết mâu thuẫn vợ chồng.
Toà án cũng đã nhiều lần phân tích, động viên bà T quay về đoàn tụ với ông B vì vợ chồng đã lớn tuổi, con cái đều đã trưởng thành ông bà nên bỏ qua mâu thuẫn và hàn gắn bên nhau lúc tuổi già nhưng bà T khẳng định bà không còn tình cảm gì với ông B, không khí gia đình luôn căng thẳng, ngột ngạt, bà không thể tiếp tục kéo dài cuộc sống hiện tại. Vì vậy, bà cương quyết yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông B.
Từ các cơ sở trên, xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông B đã đến mức trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T.
Về con chung: Bà T khai bà và ông B có 02 người con chung tên Nguyễn Chí M, sinh ngày 23/10/1988 và Nguyễn Chí Q, sinh ngày 23/02/2000. Tất cả các con đều đã trưởng thành.
Về tài sản chung: Bà T và ông B tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà T khai bà và ông B không có nợ chung.
3.Về án phí : Án phí DSST không có giá ngạch là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) bà T phải nộp toàn bộ nhưng theo quy định của pháp luật bà T thuộc trường hợp người cao tuổi được miễn nộp tiền án phí tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điểm b Khoản 2 Điều 227 ; Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Áp dụng Luật án phí, lệ phí Tòa án;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - bà Châu T:
Về quan hệ vợ chồng: Bà Châu T, sinh năm 1962 và ông Nguyễn B, sinh năm 1958 được ly hôn.
Giấy chứng nhận kết hôn số 06.P.13, quyển số 01.86 được UBND Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 10/3/1986 cho bà Châu T và ông Nguyễn B hết hiệu lực ngay sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật.
Về con chung: Bà T và ông B có 02 người con chung tên Nguyễn Chí M, sinh ngày 23/10/1988 và Nguyễn Chí Q, sinh ngày 23/02/2000. Tất cả các con đều đã trưởng thành.
Về tài sản chung: Bà T và ông B tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà T khai bà và ông B không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Án phí DSST : 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) bà Châu T nộp toàn bộ, như bà Châu T thuộc trường hợp người cao tuổi được miễn án phí, lệ phí theo quy định tại điểm đ Khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
3. Quyền kháng cáo: Bà Châu T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn B được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: -TAND Tp.HCM; -VKSND Q.T; -THA DS Q.T; - UBND Q. 5; - Đương sự; - Lưu HS, VP. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Thị Nguyệt HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣơng Thanh Mƣời |