vanban.org

Bản án 882/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Trần Thị Yến N.

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trần Thị Yến N và ông Nguyễn Trường Sơn D. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa bà N và ông D"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Trần Thị Yến N.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 882/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 09-6-2022
V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thơ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Thị Ngọc

2. Ông Nguyễn Ngọc Cảnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Cẩm Vân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi: Không tham gia phiên tòa.

Trong ngày 09 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Củ Chi – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 295/2022/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2022 về tranh chấp Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 208/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 211/2022/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Yến N, sinh năm: 1989; Địa chỉ: 322 Bàu Lách, tổ 1, ấp B, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.(có mặt)

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Trường Sơn D, sinh năm: 1988; Địa chỉ: 63 Bàu Lách, tổ 27, ấp 4, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn nộp ngày 22/02/2022 và bản tự khai, biên bản không tiến hành hòa giải được, nguyên đơn bà Trần Thị Yến N trình bày: Bà và ông Nguyễn Trường Sơn D tự nguyện sống chung vào năm 2016 có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 35/2016 ngày 12/8/2016. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng về sóng chung bên nhà bà, thời gian đầu hạnh phúc. Tuy nhiên, những năm sau thì cuộc sống kinh tế gia đình lâm vào tình trạng khó khăn, ông D ham mê chơi game không lo làm ăn, từ đó hai vợ chồng bắt đầu phát sinh cãi vã, ông D thường xuyên bỏ đi khỏi nhà, vài ngày thì quay lại. Bà đã nhiều lần hàn gắn quan hệ vợ chồng nhưng không thành. Bà và ông D đã không còn sống chung với nhau được 04 năm. Bà nhận thấy không còn tình cảm với ông D nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông D.

Về nuôi con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Phương V, sinh ngày: 26/8/2017, bà yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu ông D cấp dưỡng.

Về chia tài sản chung: Không có.

Về nghĩa vụ dân sự chung: Không có.

Bị đơn đã được Toà án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt không rõ lý do. Do vậy, Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Căn cứ đơn xin ly hôn ngày 22/02/2022, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết là Ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Căn cứ đơn xác nhận và kết quả Thừa phát lại huyện Hóc Môn xác định Bị đơn có nơi cư trú tại: Ấp 4, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Củ Chi.

Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà bị đơn vẫn vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Bà Trần Thị Yến N và ông Nguyễn Trường Sơn D tự nguyện sống chung, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 35/2016 ngày 12/8/2016, nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp.

Theo đơn xin ly hôn, Nguyên đơn cho rằng trong quá trình sống chung cả hai phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do cả hai không tìm được tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, nguyên nhân là do kinh tế gia đình khó khăn nhưng ông D không cùng bà chăm lo gia đình, thường xuyên bỏ đi khỏi nhà, vài ngày thì quay lại. Bà đã nhiều lần hàn gắn quan hệ vợ chồng nhưng không thành. Bà và ông D không còn sống chung được hơn 04 năm, nhận thấy không thể sống chung được nữa và không còn tình cảm với nhau nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông D. Tòa án nhận thấy trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không gửi văn bản trình bày ý kiến mặc dù được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định, thể hiện bị đơn không mong muốn đoàn tụ và hàn gắn quan hệ vợ chồng, đồng thời bà N xác định hiện bà và ông D không còn sống chung từ năm 2018 cho đến nay. Do vậy, Tòa án không có cơ sở để hòa giải đoàn tụ theo quy định. Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Trần Thị Yến N và ông Nguyễn Trường Sơn D là có xảy ra, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và không có khả năng đoàn tụ nên chấp nhận yêu cầu về việc ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở.

Về nuôi con chung: Nguyên đơn xác định có 01 con chung tên Nguyễn Phương V, sinh ngày: 26/8/2017. Tại đơn xin ly hôn và tại phiên tòa, bà N xác định hiện trẻ đang sống chung với bà nên bà yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi trẻ Phương V. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không gửi văn bản trình bày ý kiến về việc nuôi con chung mặc dù được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định. Hội đồng xét xử xét thấy hiện trẻ đang sống chung với bà N, do vậy để ổn định tâm sinh lý cho trẻ, Hội đồng xét xử giao trẻ Phương V cho bà N tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về mức cấp dưỡng nuôi con chung, tại đơn xin ly hôn và tại phiên tòa, bà N xác định không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung. Đây là sự tự nguyện của bà N, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về chia tài sản chung: Nguyên đơn xác định không có.

Về nghĩa vụ dân sự chung: Nguyên đơn xác định không có.

Bị đơn vắng mặt tại phiên toà, nếu có tranh chấp về nuôi con chung, về chia tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung sẽ được giải quyết bằng vụ kiện khác.

Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật phí, lệ phí tòa án số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015, nghĩ nên buộc nguyên đơn phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Luật phí, lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Trần Thị Yến N.

1. Về hôn nhân:

Cho ly hôn giữa bà Trần Thị Yến N và ông Nguyễn Trường Sơn D.

(Quan hệ vợ chồng giữa bà Trần Thị Yến N và ông Nguyễn Trường Sơn D được xác lập theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 35 ngày 12/8/2016 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp)

2. Về nuôi con chung: Giao con chung tên Nguyễn Phương V, sinh ngày: 26/8/2017 cho bà Trần Thị Yến N trực tiếp nuôi dưỡng.

Ghi nhận sự tự nguyện của đương sự không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, không ai được cản trở.

Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức có quyền yêu cầu theo quy định tại Điều 84, Điều 119 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

3. Về chia tài sản chung, nghĩa vụ dân sự chung: Nguyên đơn xác định không có.

4. Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng buộc bà Trần Thị Yến N phải nộp, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo biên lai số AA/2021/0043957 ngày 25 tháng 02 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi; bà N đã nộp đủ tiền án phí.

Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn không có mặt tại phiên toà thì có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ