- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Mạnh H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Võ Mạnh H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 88/2025/HS-ST Ngày: 25 - 4 - 2025 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Cảnh Liêm.
2. Bà Lê Thị Ngọc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hạnh là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Mỹ Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 52/2025/TLST - HS ngày 19 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2025, đối với bị cáo:
Võ Mạnh H, sinh ngày 16/01/1972; tại P, tỉnh B; nơi đăng ký TT: 132 Hàm N, phường N, thành phố Q, tỉnh B; nơi cư trú: Xóm Đ, thôn H, xã P, huyện T, tỉnh B; nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ A (chết) và bà Trần Thị Hồng M, sinh năm 1945; Em ruột: có 04 người; vợ: Nguyễn Thị Huyền M, sinh năm 1975 (đã ly hôn); con: có 01 người 30 tuổi; tiền án; tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngặn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
1. Anh Tân Trung K, sinh năm 2000; Nơi cư trú: 57/47 Hai Bà T, phường thành phố Q, tỉnh B; có đơn xin vắng mặt.
2. Anh Trần Công V, sinh năm 2000; Nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện P, tỉnh B; có đơn xin vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Lê Thị Thanh L, sinh năm 1977; Nơi cư trú: Xóm Đ, thôn H, xã P huyện T, tỉnh B; có mặt.
2. Anh Nguyễn Thanh M, sinh năm 1992; Nơi cư trú: 18/1 Trần Thị K, phường N, thành phố Q, tỉnh B; có mặt
3. Anh Nguyễn Cầu N, sinh năm 1966; Nơi cư trú: 07/4 Ngọc Hận Công C, phường T, thành phố Q, tỉnh B; có mặt
4. Anh Nguyễn Đình P, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Thôn Tân G, xã P, huyện T, tỉnh B; vắng mặt.
5. Anh Võ Hồng S, sinh năm 1973; Nơi cư trú: 06 Nguyễn Trung T, phường N, thành phố Q, tỉnh B; có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ ngày 22/8/2024 đến ngày 24/8/2024, Võ Mạnh H đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng 22 giờ ngày 22/8/2024, anh Tân Trung K (sinh năm 2000) điều khiển xe mô tô Yamaha Sirius, màu xám đen, biển số 77L1-080.07 đến Công viên Thiếu nhi mở rộng, dựng xe bên cạnh bồn hoa rồi đến bãi cỏ cách đó khoảng 30 mét chơi. Cùng thời gian đó, Võ Mạnh H điều khiển xe mô tô HADOSIVA gắn biển kiểm soát 77F1-2237 chở Lê Thị Thanh L (là bạn gái của Hùng) tới Công viên thiếu nhi mở rộng thuộc phường N, thành phố Q, dựng xe mô tô gần đó để ngồi chơi. Võ Mạnh H để L ngồi trên ghế đá tại Công viên rồi Hùng đi bộ vào bên trong Công viên, quan sát thấy nhiều xe mô tô dựng bên trong, trong đó có xe mô tô Sirius màu xám đen BKS 77L1-080.07 của anh K không có người trông coi nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. H đi tới gần, dùng tay dắt xe mô tô 77L1-080.07 lùi về hướng đường X, đến bồn hoa giấy trong Công viên rồi lấy 01 tua-vít và 01 kìm bấm chết từ trong túi quần (đã chuẩn bị từ trước) ra bẻ khóa xe mô tô, khởi động xe điều khiển chạy về hướng khu An Phú Thịnh, phường Nhơn Bình, TP. Quy Nhơn. Tại đây, H dùng cờ lê tháo biển số 77L1-080.07 (của xe vừa trộm được) ra và gắn biển số 77G1-090.07 mà H đã trộm trước đó vào, đục phá số khung số máy của xe mô tô trên. Sau đó, H gọi điện thoại nói L điều khiển xe mô tô 77F1-2237 đến gặp H rồi cả hai mỗi người điều khiển một xe đi về. Đến khoảng 23 giờ 00 cùng ngày, anh K phát hiện xe mô tô bị mất. Đến ngày 24/8/2024, anh K đến Công an phường N trình báo sự việc.
Lần thứ hai: khoảng 21 giờ 30 phút ngày 24/8/2024, anh Trần Công V điều khiển xe mô tô Yamaha Sirius màu đỏ đen, biển kiểm soát 77D1-479.98 đến Công viên thiếu nhi mở rộng thuộc phường N, thành phố Q, dựng xe mô tô gần đó rồi đi xuống bờ kè cách đó khoảng 50 mét ngồi chơi. Khoảng 21 giờ 40 phút, Võ Mạnh H điều khiển xe mô tô gắn biển số 77G1-090.07 chở L đến Công viên thiếu nhi mở rộng dạo chơi. L ngồi chơi ở ghế đá, còn Hùng điều khiển xe mô tô đi vào trong công viên thì thấy xe mô tô 77D1-479.98 của anh Trần Công V không có người trông coi nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. H quay lại chỗ L ngồi, dựng xe tại đây rồi lấy tua vít và kìm bấm chết trong cốp xe quay lại chỗ xe mô tô 77D1-479.98, H phá khoá rồi dắt đến bãi đỗ xe ô tô trong công viên thì bị lực lượng Công an phường đi tuần tra phát hiện mời về trụ sở làm việc.
Ngày 02/10/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Quy Nhơn kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại: Sirius, màu sơn: Đỏ đen, số khung: 3240JY171435, số máy: E3X9B466583, biển số: 77D1-479.98, đã qua sử dụng, trị giá 11.000.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại: Sirius, màu sơn: Đen, số khung: 40BY-522617, số máy: 5C64-522628, gắn biển số: 77G1-080.07, đã qua sử dụng, trị giá là 8.000.000 đồng.
Ngày 07/10/2024, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Định kết luận: xe mô tô biển số: 77G1-090.07, màu sơn: Đen, nhãn hiệu: YAMAHA, số loại: SIRIUS gửi giám định có số khung bị đục phá, phục hồi số khung nguyên thủy là RLCS5C40BY-522617; số máy bị đục phá, phục hồi số máy nguyên thủy là 5C64-522628.
Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an TP. Quy Nhơn đã tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại: Sirius, màu sơn: Đỏ đen, số khung: 3240JY171435, số máy: E3X9B466583, biển số: 77D1-479.98, đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu: Yamaha, số loại: Sirius, màu sơn: Đen; số khung: 40BY-522617, số máy: 5C64-522628, gắn biển số: 77G1-090.07, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng; 01 biển kiểm soát 77L1-080.07; 01 kìm bấm chết bằng kim loại, chiều dài 22 cm, cán bằng cao su màu xanh dương, đã qua sử dụng; 01 tuốc nê vít bằng kim loại, chiều dài 25 cm, cán bằng nhựa cứng màu nâu dài 10 cm, đã qua sử dụng; 01 cờ lê 10 bằng kim loại, chiều dài 14 cm, một đầu hình chữ U, một đầu hình tròn. Ngày 06/11/2024, Cơ quan điều tra – Công an thành phố Quy Nhơn đã xử lý vật chứng: trả xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển số: 77D1-479.98 cho chủ sở hữu Trần Công V; trả xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại: Sirius, màu sơn: Đen và biển số: 77L1-080.07 cho chủ sở hữu Tân Trung K; 01 biển kiểm soát 77G1-090.07 chủ sở hữu là ông Nguyễn Đình P.
Về dân sự: Trần Công V, Nguyễn Đình P và Tân Trung K đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu bồi thường gì khác.
Bản Cáo trạng số: 60/CT - VKSQN ngày 18 tháng 3 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn đã truy tố bị cáo Võ Mạnh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa bị cáo Võ Mạnh H khai nhận có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của bị hại Trần Công V và Tân Trung K. Bị cáo nhận tội và không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo Võ Mạnh H đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại Tân Trung K số tiền 1.000.000 đồng, các bị hại Trần Công V và Tân Trung K không yêu cầu bồi thường và anh Trần Công V, anh Tân Trung K, anh Nguyễn Đình P đều có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định đề nghị: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Võ Mạnh H về tội “Trộm cắp tài sản” và áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều Điều 52; Điều 65 của Bộ Luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Võ Mạnh H từ 9 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách.
Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu huỷ 01 kìm bấm chết bằng kim loại, chiều dài 22 cm, cán bằng cao su màu xanh dương, đã qua sử dụng; 01 tuốc nê vít bằng kim loại, chiều dài 25 cm, cán bằng nhựa cứng màu nâu dài 10 cm, đã qua sử dụng; 01 cờ lê 10 bằng kim loại, chiều dài 14 cm, một đầu hình chữ U, một đầu hình tròn.
Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là sai và rất hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo cơ hội sửa sai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Võ Mạnh Hùng đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô Yamaha Sirius, màu đen, biển số 77L1-080.07 trị giá 8.000.000 đồng của anh Tân Trung Kiên vào ngày 22/8/2024 và 01 xe mô tô Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển số 77D1-479.98 trị giá 11.000.000 đồng của anh Trần Công V vào ngày 24/8/2024 tại Công viên thiếu nhi thuộc phường Nguyễn Văn Cừ, thành phố Quy Nhơn. Tổng giá trị tài sản bị cáo Hùng chiếm đoạt là 19.000.000 đồng. Hành vi của Võ Mạnh H là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác nên cần phải bị xử lý theo pháp luật hình sự. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định truy tố bị cáo Võ Mạnh H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ Luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ.
Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhưng cố ý thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Nên cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự, nhằm để răng đe, cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tôt, có ích cho xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, có một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo phạm tội ít nghiệm trọng và các lần phạm tội của bị cáo đều là tội phạm ít nghiêm trọng, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại, bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại Tân Trung Kiên số tiền 1.000.000 đồng và bị hại Trần Công V, anh Tân Trung K, anh Nguyễn Đình P đều có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hơn nữa bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, xử bị cáo mức án có lý, có tình và không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, xử bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú quản lý, giáo dục là phù hợp Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018. Do đó, cho bị cáo Võ Mạnh Hùng được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách cho bị cáo và bị cáo thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Tân Trung K và Trần Công V không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an TP. Quy Nhơn đã tạm giữ 01 kìm bấm chết bằng kim loại, chiều dài 22 cm, cán bằng cao su màu xanh dương, đã qua sử dụng; 01 tuốc nê vít bằng kim loại, chiều dài 25 cm, cán bằng nhựa cứng màu nâu dài 10 cm, đã qua sử dụng; 01 cờ lê 10 bằng kim loại, chiều dài 14 cm, một đầu hình chữ U, một đầu hình tròn. Xét thấy số vật chứng này là công cụ mà bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu huỷ là phù hợp theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về vấn đề khác:
- Đối với chị Lê Thị Thanh L đã đi cùng với bị cáo Võ Mạnh H đến Công viên thiếu nhi mở rộng nhưng không biết, không giúp sức cho bị cáo H thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên không phạm tội.
- Đối với biển kiểm soát 77G1-090.07 do bị cáo Võ Mạnh H chiếm đoạt của anh Nguyễn Đình P đã cũ, không có giá trị sử dụng, anh P không có yêu cầu gì nên không có căn cứ xử lý Võ Mạnh H về hành vi này.
Về án phí: Theo quy định tại các Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Võ Mạnh H phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn về tội danh, khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, xử lý vật chứng, mức hình phạt xử phạt đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Võ Mạnh H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Võ Mạnh H 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử trách là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/4/2025).
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh B giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo có thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 kìm bấm chết bằng kim loại, chiều dài 22 cm, cán bằng cao su màu xanh dương, đã qua sử dụng; 01 tuốc nê vít bằng kim loại, chiều dài 25 cm, cán bằng nhựa cứng màu nâu dài 10 cm, đã qua sử dụng; 01 cờ lê 10 bằng kim loại, chiều dài 14 cm, một đầu hình chữ U, một đầu hình tròn (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn).
4. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Tân Trung K và anh Trần Công V không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
5. Về án phí: Bị cáo Võ Mạnh H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Định; - VKSND Tp. Quy Nhơn; - Chi cục THADS Tp. Quy Nhơn; - CQ CSĐT CA Tỉnh Bình Định; - Đương sự; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Thị Hƣơng |