vanban.org

Bản án 88/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân phường Thiên Hương, thành phố Hải Phòng quản lý giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ, gia đình bị cáo có trách nhiệm với địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm ngh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình Dương - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân phường Thiên Hương, thành phố Hải Phòng quản lý giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ, gia đình bị cáo có trách nhiệm với địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 02/2022/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số q…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2025/HS-ST
Ngày 05 - 12 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Đức Cảnh

Ông Phạm Thành Sinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Bích Thuỷ, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1 - phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân Khu vực 1 - Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Hiến- Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 81/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 11năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Đình D , sinh năm 1974 tại Hải Phòng, Nơi cư trú: thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình C và bà Phạm Thị X; có vợ Đinh Thị t; tiền án,tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13-8-2025; có mặt.

Bị hại: Ông Phạm Khắc S, sinh năm 1973, nơi cư trú: Tổ dân phố Kiền Bái 7, phường Thiên Hương, thành phố Hải Phòng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Đình D là hàng xóm của anh Phạm Khắc S. D và S thường xuyên uống rượu với nhau. Do nghi ngờ anh S lấy trộm xe đạp của D dẫn đến hai bên xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau. Khoảng 17 giờ ngày 07-6-2025, D đang ngồi chơi trước cửa hàng tạp hóa của bà Vũ Thị Liên (tên gọi khác là Bút), sinh năm 1941 thuộc tổ dân phố Kiền Bái 6, phường Thiên Hương thì anh S đi bộ đến. Anh S nói với D "mày đổ vạ cho tao ăn cắp xe đạp", D nói "mày đã ăn cắp xe đạp mày còn cãi". D đi bộ vào ngõ cạnh cửa quán bà Liên thì anh S đi sau túm lưng áo của D, dùng tay đấm khoảng 04 cái vào lưng D nhưng không gây thương tích. Bị đánh, D đi vào trong ngõ thấy đoạn chai thuỷ tinh màu xanh lá đậm (một đầu hình tròn, một phần có nhiều vết răng cưa cao thấp) nên đã cầm ra đầu ngõ. Thấy anh S đứng quay lưng vào trong ngõ, D cầm đoạn chai thủy tinh bằng tay phải dơ lên theo hướng từ trên xuống đâm 01 nhát vào lưng trái (phía sau thành ngực bên trái) của anh S. Sau đó, D cầm theo đoạn chai thuỷ tinh quay lại chỗ cũ vất xuống và đi về nhà. Anh S bị thương được mọi người đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp - Hải Phòng.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể số 402/2025/KLTTCT-TTPYHP ngày 23/7/2025 của Trung tâm pháp y Hải Phòng kết luận: "anh S bị 01 vết thương thành sau ngực trái kích thước 03cm, bờ nham nhở chảy nhiều máu, đáy sâu khó khảo sát, sau liền sẹo nhằn màu nâu; không tổn thương phổi, màng phổi, xương thành ngực. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Phạm Khắc S là 01% (trong đó sẹo vết thương vùng lưng trái là 01%). Thương tích có đặc điểm do vật có cạnh sắc hoặc tương đối sắc tác động trực tiếp gây nên".

Bị hại anh Phạm Khắc S khai: Anh S và D ở cùng xóm với nhau và không có mâu thuẫn gì. Khi Anh S đi ra quán bà Liên mua đồ, có gặp D, hai bên có nói qua lại vài câu thì bị D dùng vật nhọn đâm phía sau lưng, sau khi bị đâm thấy bị chảy máu, anh S có về nhà cầm 01 con dao quay trở lại với ý định nếu bị D đánh để phòng vệ nhưng không gặp D. Sau đó anh S được băng bó vết thương và đưa đi bệnh viện điều trị. Anh D có đơn đề nghị công an khởi tố vụ án, khởi tố bị cáo Nguyễn Đình D và yêu cầu D phải bồi thường thiệt hại tống số tiền 300.000.000 đồng.

Về vật chứng: 01 đoạn chai thủy tinh, miệng chai hình tròn có đường kính 02cm, mảnh vỡ phân thân sắc nhọn, nham nhở, vết sắc nhọn dài nhất 08cm chuyển Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Hải Phòng quản lý.

Về dân sự: anh S yêu cầu D phải bồi thường số tiền 300.000.000 đồng, do hai bên không thoả thuận được mức bồi thường và S không nhận số tiền bồi thường do D trả nên ngày 04-12-2025 D đã nộp vào cơ quan thi hành án số tiền 25.000.000 đồng để khắc phục hậu quả.

Tại Bản cáo trạng số 20/CT-VKSKV1 ngày 01 tháng 11 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1- Hải Phòng đã truy tố bị cáo Nguyễn Đình D về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Hải Phòng tại phiên tòa trình bày lời luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ Luật Hình sự xử phạt Nguyễn Đình D từu 9 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ. Không khẩu trừ thu nhập đối với bị cáo. Buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho bị hại theo quy định của pháp luật. Bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo đồng ý tội danh, mức hình phạt Kiểm sát viên đề nghị và không tranh luận, chỉ xin được giảm nhẹ hình phạt.

Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo trình bày nhận thức rõ hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm đã thực hiện, tỏ ra ăn năn, hối cải và mong muốn được sự khoan hồng của pháp luật, được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định trong quá trình tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, của người được giao thẩm quyền tiến hành tố tụng đối với vụ án trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo và những người khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì nên các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh, định khung hình phạt: Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai của người làm chứng, tài liệu khám nghiệm hiện trường cùng kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận: Ngày 07 tháng 6 năm 2025, Tại tổ dân phố Kiền Bái 6, phường Thiên Hương, thành phố Hải Phòng do mâu thuẫn cá nhân, Nguyễn Đình D đã dùng hung khí nguy hiểm (chai thuỷ tinh vỡ) gây thương tích làm tổn thương cơ thể 01% cho anh Phạm Khắc S. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại”, “người phạm tội thành khẩn khai báo” và“người phạm lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, quy định tại điểm b, i, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Xét bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, trong vụ án này bị hại cũng có lỗi 1 phần. bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy, bị cáo có khả năng tự cải tạo mà không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên không cần thiết phải buộc bị cáo phải cách ly xã hội. Áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ theo quy định tại Điều 36 Bộ luật Hình sự cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung, đồng thời còn thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa. Bị cáo có điều kiện kinh tế khó khăn nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bồi thường tổng số tiền 300.000.000 đồng, Do không thỏa thuận được mức bồi thường nên mức bồi thường được xem xét theo quy định của pháp luật. Căn cứ Điều 585, 590 của Bộ luật Dân sự, Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử xét các khoản tiền yêu cầu bồi thường của bị hại như sau:

Các khoản yêu cầu về tiền xe đi cấp cứu là 900.000 đồng; tiền thuốc, thiết bị y tế, thanh toán tiền viện phí tổng số tiền điều trị là 21.052.000 đồng: Đây là những chi phí thực tế anh S đã bỏ ra để điều trị thương tích nên có căn cứ chấp nhận.

Về thu nhập bị mất của bị hại: Anh S phải điều trị tại bệnh viện là 25 ngày nên được xác định thu nhập thực tế bị mất của anh S là theo yêu cầu của anh S là 25 x 500.000 đồng/ngày = 12.500.000 đồng. Yêu cầu này của anh S là có căn cứ chấp nhận.

Về chi phí cho người chăm nuôi: Khoản 3 Điều 7 Nghị quyết 02/NQ-HĐTP quy định: “Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại được xác định trong thời gian người bị thiệt hại điều trị”. Do anh S có thời gian điều trị tại bệnh viện. Anh S trình bày trong thời gian 7 ngày đầu điều trị tại bệnh viện anh S có 01 người chăm sóc nên xác định số thu nhập bị mất của người chăm là 7 x700.000 đồng/ ngày = 4.900.000 đồng

Bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần: Nguyên nhân dẫn đến sự việc gây thương tích là do mâu thuẫn đơn giản cá nhân bị cáo và bị hại, trong sự việc trên bị hại cũng có lỗi một phần, tổn thương cơ thể của bị hại là nhỏ 0,1% .Vì vậy mức tiền bù đắp tổn thất về tinh thần được xem xét chấp nhận là 01 tháng lương cơ sở 2.340.000 đồng.

Tổng số tiền bị cáo phải bồi thường cho anh S là: 41.692.000 đồng, bị cáo đã tự nguyện nộp 25.000.000 đồng vào cơ quan thi hành án dân sự, bị cáo còn phải bồi thường tiếp cho anh Phạm Khắc S là 16.692.000 đồng

Về xử lý vật chứng: 01 đoạn chai thủy tinh, miệng chai hình tròn có đường kính 02cm, mảnh vỡ phân thân sắc nhọn, nham nhở, vết sắc nhọn dài nhất 08cm là công cụ phương tiện phạm tội không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về những vấn đề khác: Vụ án này không có dấu hiệu của việc bỏ lọt tội phạm hoặc hành vi phạm tội mới nên Hội đồng xét xử không phân tích chứng cứ để yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134, điểm b,i,s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình D phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình D 09 tháng cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân phường Thiên Hương, thành phố Hải Phòng quản lý giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ, gia đình bị cáo có trách nhiệm với địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 835.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các điều 584, 585, 590 Bộ luật Dân sự, Nghị quyết 02/NQ-HĐTP ngày 06-9-2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao Buộc bị cáo Nguyễn Đình D phải bồi thường cho anh Phạm Khắc S 41.692.000 đồng, bị cáo đã nộp 25.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0001797 ngày 04 tháng 12 năm 2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Bị cáo còn phải bồi thường tiếp cho anh Phạm Khắc S là 16.692.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền nêu trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ 01 đoạn chai thủy tinh, miệng chai hình tròn có đường kính 02cm, mảnh vỡ phân thân sắc nhọn, nham nhở, vết sắc nhọn dài nhất 08cm (theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 30 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng).

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Bị cáo;

- Bị hại;

- TAND TP Hải Phòng;

- VKSND TP Hải Phòng;

- VKSND cùng cấp;

- THADS TP Hải Phòng;

- Công an TP Hải Phòng;

- UBND phường Thiên Hương;

Nguyễn Thị Mai

- Sở Tư pháp TP Hải Phòng;

- Phòng PV06, PC10;

- Lưu: VT; HCTP; Hồ sơ vụ án.

Hướng dẫn sử dụng mẫu số 27-HS:

Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại các điều 254, 260 và 423 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Tòa án khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo:

(1) và (4) nếu là Tòa án nhân dân thành phố, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi tên Tòa án nhân dân quận (thành phố, thị xã, thành phố) gì thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Tòa án nhân dân thành phố Nam Đàn, tỉnh Nghệ An); nếu là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi tên Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (ví dụ: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội); nếu là Tòa án quân sự khu vực thì ghi tên Tòa án quân sự khu vực gì thuộc quân khu, quân chủng nào; nếu là Tòa án quân sự quân khu, quân chủng thì ghi tên Tòa án quân sự quân khu, quân chủng (ví dụ: Tòa án quân sự Quân khu Thủ đô).

(2) ô thứ nhất ghi số Bản án, ô thứ hai ghi năm ra Bản án (ví dụ: 16/2017/HS-ST).

(3) ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày hoặc nghị án kéo dài.

(5) nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi đầy đủ họ tên của

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, bỏ dòng Thẩm phán..., đối với Hội thẩm nhân dân (quân nhân) chỉ ghi đầy đủ họ tên của hai Hội thẩm nhân dân (quân nhân); nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi đầy đủ họ tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, họ tên của

Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Cần chú ý không ghi chức vụ của Thẩm phán; đối với vụ án hình sự thông thường thì không ghi chức vụ, nghề nghiệp của

Hội thẩm nhân dân (quân nhân); đối với vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi thì ghi nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Nếu vụ án do Tòa án quân sự giải quyết thì không ghi Ông (Bà) mà ghi cấp bậc quân hàm.

(6) ghi đầy đủ họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).

(7) ghi tên Viện kiểm sát như hướng dẫn tại (1); ghi họ tên Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.

(8) trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ Trong các (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi Từ ngày đến ngày (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).

(9) nếu vụ án được xét xử tại trụ sở Tòa án thì ghi như hướng dẫn tại mục (1) (4). Nếu vụ án được xét xử lưu động thì ghi địa điểm nơi diễn ra phiên tòa.

(10) nếu xét xử kín thì thay cụm từ công khai bằng từ kín.

(11) và (12) ghi đầy đủ họ tên bị cáo và các bí danh, tên thường gọi khác (nếu có); nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 8 tháng 15 ngày); nếu bị cáo trên 18 tuổi thì ghi ngày, tháng, năm sinh hoặc tuổi; ghi nơi đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, nơi sinh sống của bị cáo. Đối với tiền sự thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị xử lý đó tính đến ngày phạm tội chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật. Đối với tiền án thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị kết án đó tính đến ngày phạm tội chưa được xoá án. Về nhân thân ghi án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật cụ thể các lần đó và ghi rõ là các án tích, xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đó đã được xoá. Trường hợp bị cáo là pháp nhân thương mại thì ghi tên, địa chỉ trụ sở, tên người đại diện theo pháp luật, tiền án, tiền sự của pháp nhân thương mại và các thông tin cần thiết khác; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(13) ghi ngày bị cáo bị bắt, tạm giam; nếu trước đó bị cáo đã bị tạm giữ, bị bắt, tạm giam, thì ghi ngày bị tạm giữ, ngày bị bắt, tạm giam và ngày được cho tại ngoại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(14) và (15) nếu bị cáo có người đại diện hợp pháp thì ghi rõ họ tên của bị cáo đó (ví dụ: Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn A). Sau chữ là ghi quan hệ như thế nào với bị cáo (ví dụ: là bố của bị cáo); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(16) nếu có người bào chữa thì ghi đầy đủ họ tên của người bào chữa và họ tên của bị cáo được bào chữa; nếu người bào chữa là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào (ví dụ: Ông Trần B, Luật sư Văn phòng luật sư Vạn Xuân thuộc Đoàn luật sư tỉnh H bào chữa cho Nguyễn Văn C); nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bào chữa (ví dụ: Bà Lê Thị M, bào chữa viên nhân dân công tác tại Hội luật gia tỉnh M bào chữa cho Nguyễn Văn D); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(17), (18), (19), (20), (21), (22), (23) và (24) nếu có người nào tham gia tố tụng thì ghi đầy đủ họ tên, tuổi, nơi cư trú của người đó. Trường hợp bị hại là người bị xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự và là người dưới 18 tuổi, thì phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh của bị hại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(25) nếu bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có người bảo vệ quyền lợi cho họ, thì ghi đầy đủ họ tên của họ theo thứ tự; nếu người bảo vệ quyền lợi của đương sự là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào; nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bảo vệ quyền lợi cho đương sự; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi có mặt và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi vắng mặt.

(26) nếu có người tham gia tố tụng là người làm chứng thì ghi đầy đủ họ tên; nếu người tham gia tố tụng là người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật thì ghi đầy đủ họ tên, cơ quan công tác.

(27) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

(28) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ thự trong dấu [ ].

(29) tùy từng trường hợp mà ghi rõ căn cứ pháp luật để ra quyết định.

(30) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

(31) phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi đầy đủ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các bị cáo, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì ghi như sau: Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND thành phố Hải Phòng;

- VKSND thành phố Hải Phòng;

- VKSND thành phố Thủy Nguyên;

- Chi cục THADS thành phố Thủy Nguyên;

- Cơ quan thi hành án hình sự;

- Trại tạm giam Công an TP Hải Phòng;

- CQCSĐT Công an thành phố Thủy Nguyên;

Nguyễn Thị Mai

- UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú;

- Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;

- Phòng PV06, PC10;

- Lưu: VT; HCTP; Hồ sơ vụ án.

Cỡ chữ