vanban.org

Bản án 88/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng N. Cho bà Nguyễn Thị Hồng N được ly hôn với ông Trần Quốc L.

Về con chung: giao con chung Trần Thị Mỹ Q, sinh ngày 17/4/2009 cho bà Nguyễn Thị Hồng N tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc. Ông Trần Quốc L không phải cấp dưỡng nuôi con. Bà Nguyễn Thị Hồng N cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Trần Quốc L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị H.N với Trần Quốc L"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng N. Cho bà Nguyễn Thị Hồng N được ly hôn với ông Trần Quốc L.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số:88/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 25/4/2025
V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi
con chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Huy Phong

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Lâm Sơn và bà Phan Thị Nga.

Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Tiểu Ngọc

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang: Bà Nguyễn Thị Kiều Tiên – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 879/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2024 về việc tranh chấp“Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 144/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 125/2025/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1988; địa chỉ: ấp C, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long, (có mặt).

Bị đơn: Ông Trần Quốc L, sinh năm 1985; địa chỉ: ấp Đ, xã M, huyện C, tỉnh An Giang, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Căn cứ đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Nguyễn Thị Hồng N trình bày: Bà và ông Trần Quốc L quen biết chung sống như vợ chồng, không tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật vào ngày 08/5/2009 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long. Thời gian đầu sống hạnh phúc, đến cuối năm 2009 thì phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, cự cãi, không còn chung sống với nhau cho đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà yêu cầu ly hôn với ông L. Về con chung: có con chung Trần Thị Mỹ Q, sinh ngày 17/4/2009, hiện đang sống với bà N. Sau khi ly hôn, bà N yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông L phải cấp dưỡng nuôi con.

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp: Tờ tự khai và đơn khởi kiện ngày 24/12/2024; trích lục kết hôn số 541 ngày 24/12/2024; giấy khai sinh con chung (bản sao).

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành mở phiên hòa giải để động viên bà N, ông L xóa bỏ những bất đồng quan điểm, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng bà N vẫn giữ yêu cầu được ly hôn, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con; ông L được triệu tập nhưng đều vắng mặt, không thể hiện thiện chí hàn gắn tình cảm với bà N, ông L có cung cấp bản tự khai với nội dung đồng ý ly hôn với bà N, đồng ý để bà N được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, ông không cấp dưỡng nuôi con; ông xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Vì vậy, Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bà N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với ông L, yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Ông L vắng mặt nên Tòa án không thể hòa giải.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và giải quyết vụ án như sau:

- Về tố tụng: Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Ý kiến giải quyết vụ án: Bà và ông Trần Quốc L quen biết chung sống như vợ chồng, không tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật vào ngày 08/5/2009 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long. Thời gian đầu sống hạnh phúc, đến cuối năm 2009 thì phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, cự cãi, không còn chung sống với nhau cho đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà yêu cầu ly hôn với ông L. Về con chung: có con chung Trần Thị Mỹ Q1, sinh ngày 17/4/2009, hiện cháu đang sống với bà N. Sau khi ly hôn, bà N yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông L phải cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, yêu cầu ly hôn của bà N là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật nên có cơ sở xem xét. Về con chung: cháu Trần Thị Mỹ Q1, sinh ngày 17/4/2009, đang sống với bà N. Sau khi ly hôn, bà N yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông L phải cấp dưỡng nuôi con. Đánh giá kể từ thời điểm vợ chồng ly thân, con chung sống cùng với bà N phát triển ổn định về thể chất, tinh thần; cháu Q có nguyện vọng sống cùng với mẹ; Mặt khác, ông L cũng đồng ý giao con chung cho bà N chăm sóc, nuôi dưỡng nên giao cháu cho bà N tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc. Do bà N, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, đề xuất:

- Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Hồng N đối với ông Trần Quốc L.

- Giao con chung Trần Thị Mỹ Q, sinh ngày 17/4/2009 cho bà Nguyễn Thị Hồng N tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc. Ông Trần Quốc L không phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp: Bà Nguyễn Thị Hồng N khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Trần Quốc L được xác định là tranh chấp“Ly hôn, nuôi con”quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về thẩm quyền: Bị đơn có nơi cư trú tại địa bàn huyện C, tỉnh An Giang. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang theo quy định tại các Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: bị đơn được triệu tập đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, có ý kiến xin vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng. Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án.

Về quan hệ hôn nhân:

Về tính hợp pháp: bà N và ông L không tổ chức lễ cưới nhưng có đăng ký kết hôn theo quy định vào ngày 08/5/2009 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long thuộc trường hợp hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận, bảo vệ.

Về tình trạng hôn nhân: Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc đến cuối năm 2009 thì bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày thường xuyên cự cãi, không tìm được tiếng nói chung, phát sinh nhiều mâu thuẫn và ly thân cho đến nay; bà N yêu cầu ly hôn, ông L vắng mặt nhưng có văn bản trình bày ý kiến đồng ý ly hôn. Bà N xác định không còn tình cảm, kiên quyết xin được ly hôn với ông L; Với những căn cứ trên, có cơ sở xác định hôn nhân giữa bà N, ông L phát sinh mâu thuẩn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên chấp nhận yêu cầu của bà N xin ly hôn với ông L theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: con chung Trần Thị Mỹ Q1, sinh ngày 17/4/2009, đang sống với bà N. Sau khi ly hôn, bà N yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông L phải cấp dưỡng nuôi con; cháu Q có nguyện vọng nếu cha mẹ ly hôn được sống cùng với mẹ; ông L có ý kiến đồng ý giao con chung cho bà N chăm sóc, nuôi dưỡng. Đánh giá việc giao con cho cha hoặc mẹ chăm sóc nuôi dưỡng phải căn cứ vào điều kiện sinh sống, sự phát triển về mọi mặt của con. Từ khi bà N, ông L ly thân, cháu Q sống cùng với bà N phát triển bình thường về thể chất, tinh thần. Để ổn định cho cuộc sống của cháu, nên giao cháu cho bà N tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc; do bà N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, không đề cập.

Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu, nên không đề cập;

Về án phí: Bà N phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật Tố tụng Dân sự. Ông L không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; các Điều 144, 147, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326 2016 BTV H14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của y ban thư ng vụ uốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng N. Cho bà Nguyễn Thị Hồng N được ly hôn với ông Trần Quốc L.

2. Về con chung: giao con chung Trần Thị Mỹ Q, sinh ngày 17/4/2009 cho bà Nguyễn Thị Hồng N tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc. Ông Trần Quốc L không phải cấp dưỡng nuôi con.

Bà Nguyễn Thị Hồng N cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Trần Quốc L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Trần Thị Mỹ Q.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

3. Về tài sản chung, nợ chung: không đề cập giải quyết.

4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hồng N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, khấu trừ số tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu tiền số 0023882 ngày 27 tháng 12 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang; bà N đã nộp xong. Ông Trần Quốc L không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo:

- Bà Nguyễn Thị Hồng N, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

- Ông Trần Quốc L được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc được niêm yết bản án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ