- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ông Nguyễn Hồng N tranh chấp hợp đồng vay tài sản với ông Hồ Văn L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hồng N.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 88/2025/DS - ST Ngày 09- 9- 2025 V/v tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Phê.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Tiền;
2. Bà Lê Thị Hoàng Diễm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Phương - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 – Vĩnh Long.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Vĩnh Long: Bà Võ Thị Huỳnh Nhung – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 – Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 133/2025/TLST-DS ngày 21 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2025/QĐXXST-DS, ngày 25 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hồng N, sinh năm 1986; CCCD xxxxxxxxxxxx. Địa chỉ: Số A N, phường A, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị M, sinh năm 1974; CCCD xxxxxxxxxxxx. Địa chỉ: Số C, khu phố B, phường B, tỉnh Vĩnh Long. Có mặt.
Bị đơn: Ông Hồ Văn L, sinh năm 1957; CCCDxxxxxxxxxxxx
Địa chỉ: Số B, ấp B, phường B, tỉnh Vĩnh Long.
Ông Hồ Văn L có đơn xin vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Thanh H, sinh năm 1981; Địa chỉ: Số B, ấp B, phường B, tỉnh Vĩnh Long. Có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Thông qua ông Lê Thanh H thì ông Nguyễn Hồng N có biết ông Hồ Văn L cần vay tiền nên ông và ông L thỏa thuận ông cho ông L vay các lần như sau:
Lần 1: Ngày 08/11/2024 ông N cho ông L vay 5.000.000 đồng, không viết biên nhận.
Lần 2: Ngày 14/11/2024 ông cho ông L vay số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), lãi suất vay 5%/tháng, thời hạn vay vài ngày, mục đích vay để đáp ứng sinh hoạt chung cho gia đình. Khi nhận tiền ông L viết biên nhận nợ ngày 14/11/2024 tổng cộng khoản vay lần 01 và lần 02 cho ông với số tiền là 15.000.000 đồng.
Lần 3: Ngày 22/11/2024 ông cho ông L vay số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), lãi suất vay 5%/tháng, thời hạn vay 30 ngày, mục đích vay để đáp ứng sinh hoạt chung cho gia đình, khi nhận tiền ông L có viết biên nhận nợ ngày 22/11/2024 cho ông.
Ông N là người trực tiếp giao tiền các lần cho ông L tại nhà của ông Lê Thanh H, ông N có nhận tiền lãi của ông L trả cho ông được 01 tháng đầu là 1.000.000 đồng.
Ở địa phương ông L biết ông N còn có tên gọi khác là “H” nên trong biên nhận ông L viết thể hiện nội dung “chú L có mượn cháu H...” ông N khẳng định số tiền cho ông L vay là tiền của ông N không liên quan đến ông Lê Thanh H, đồng thời vụ án tranh chấp giữa ông Hồ Văn L với ông Lê Thanh H mà Tòa án nhân dân khu vực 5- Vĩnh Long xử ngày 08/8/2025 thì không có liên quan đến số tiền ông L vay của ông N.
Tại phiên tòa ông Nguyễn Hồng N yêu cầu ông Hồ Văn L giao cho ông Nguyễn Hồng N số tiền vốn vay 20.000.000 đồng, nợ lãi tính từ tháng 01/2025 đến tháng 9/2025 là 09 tháng, với lãi suất 1,66%/tháng là 2.988.000 đồng, ông N đồng ý cấn trừ 1.000.000 đồng tiền lãi đã nhận.
Tại bản tự khai, biên bản đối chất bị đơn Hồ Văn L trình bày:
Ở địa phương ông không biết “cháu H” tên Nguyễn Hồng N. Ông thừa nhận trước đây ông có nhiều lần vay tiền của ông Lê Thanh H. Vào ngày 14/11/2024 và ngày 22/11/2024 ông vay tiền của ông Lê Thanh H nhưng ông Lê Thanh H không có tiền nên giới thiệu “cháu H” là Nguyễn Hồng N đem tiền qua cho ông vay 02 lần ông có viết biên nhận như nêu trên, tổng cộng hai lần vay là 20.000.000 đồng, hai bên giao nhận tiền và viết biên nhận hai lần tại nhà ông Lê Thanh H. Hiện nay đến ngày đối chất tại Tòa án và xem giấy tờ căn cước công dân thì ông mới biết “cháu H” ông ghi trong biên nhận tên là Nguyễn Hồng N.
Trong quá trình vay ông có trả lãi cho ông N 5%/tháng nhưng trả mấy tháng ông không nhớ và cũng không có giấy tờ gì cung cấp cho Tòa án. Theo ông trong thời gian vay tiền có lần vợ ông Lê Thanh H phô tô 02 biên nhận đến nhà ông để cộng chung các khoản nợ giữa ông và ông Lê Thanh H để yêu cầu ông trả và vụ án tranh chấp giữa ông với ông Lê Thanh H mà Tòa án nhân dân khu vực 5- Vĩnh Long xử ngày 08/8/2025. Trong trường hợp ông xem xét lại Bản án nếu số tiền này đã được giải quyết rồi thì ông không đồng ý trả tiếp mà người có trách nhiệm trả là ông Lê Thanh H, trường hợp không có giải quyết thì ông đồng ý trả cho ông Nguyễn Hồng N
Trong quá trình tố tụng ông Lê Thanh H trình bày:
Ông và ông Hồ Văn L ở địa phương có quen biết do ông có cho ông L vay tiền, đối với ông Nguyễn Hồng N thì ông và ông N có mối quan hệ bạn bè, ở địa phương ông Nguyễn Hồng N có tên gọi khác là H.
Do ông và ông L, ông N có mối quan hệ quen biết nên ông giới thiệu ông L vay tiền của ông N. Vào ngày 14/11/2024 và ngày 22/11/2024 ông N có đem tiền đến tại nhà ông giao cho ông L vay và sau khi nhận tiền ông L có viết biên nhận cho ông N. Ông là người chứng kiến hai bên thỏa thuận vay mượn tiền và giao nhận tiền. Ở địa phương ông L biết ông Nguyễn Hồng N tên gọi khác là H nên ông L thường gọi ông N là “cháu H”.
Việc vay mượn tiền giữa ông L và ông N không liên quan đến ông. Đối với vụ án tranh chấp ông L khởi kiện ông đã được Tòa án nhân dân khu vực 5 – Vĩnh Long đưa ra xét xử vào ngày 08/8/2025 trong nội dung vụ án không đề cấp đến số tiền này, giao dịch giữa ông và ông L là giao dịch khác.
Do đó ông xác định trong vụ án này ông không tranh chấp với ông L và ông H số tiền liên quan đến biên nhận ngày 14/11/2024 và ngày 22/11/2024. Do điều kiện ông bận công việc không thể tham gia tố tụng, do đó ông xin vắng mặt trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Quan điểm phát biểu của Viện kiểm sát đề nghị tại văn bản ngày 09 tháng 9 năm 2025 đã lưu trong hồ sơ vụ án. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, về án phí thực hiện theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Về tố tụng: Ông Hồ Văn L, ông Lê Thanh H có đơn xin vắng mặt, vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Hồ Văn L, ông Lê Thanh H.
Về nội dung vụ án: Ông Nguyễn Hồng N yêu cầu ông Hồ Văn L giao trả cho ông Nguyễn Hồng N số tiền vốn vay 20.000.000 đồng, nợ lãi tính từ tháng 01/2025 đến tháng 9/2025 là 09 tháng, với lãi suất 1,66%/tháng là 2.988.000 đồng, ông N đồng ý cấn trừ số tiền lãi 1.000.000 đồng đã nhận từ ông L.
[3.1] Trong quá trình tố tụng ông Nguyễn Hồng N, ông Hồ Văn L, ông Lê Thanh H thống nhất số tiền 20.000.000 đồng cho ông L vay và còn nợ là tiền của ông Nguyễn Hồng N nên thuộc tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét thấy hợp đồng vay tài sản giữa ông Nguyễn Hồng N và ông Hồ Văn L được xác lập trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng, không bị lừa dối hoặc bị ép buộc và không vi phạm quy định tại Điều 116, Điều 117 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được xem là hợp đồng hợp pháp. Hợp đồng vay tài sản được xác lập giao dịch giữa ông N và ông L và giữa ông L và ông Lê Thanh H là hai giao dịch hoàn toàn khác nhau; Việc ông L cho rằng trong thời gian vay tiền thì phía ông Thanh H có phô tô 02 biên nhận ngày 14/11/2024 và 22/11/2024 của ông N đến nhà ông L để tổng kết chung với các khoản nợ giữa ông L và ông Lê Thanh H và số tiền nêu trên cũng đã được giải quyết trong vụ án tranh chấp giữa ông với ông Lê Thanh H mà Tòa án nhân dân khu vực 5- Vĩnh Long xử ngày 08/8/2025; Lời trình bày của ông Hồ Văn L trong quá trình đối chất và tại phiên tòa không được ông Thanh H, ông N thừa nhận. Mặt khác căn cứ vào Bản án số 36/2025/DS-ST ngày 08/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5- Vĩnh Long thì ông L cũng không có trình bày liên quan đến khoản vay này nên có căn cứ xác định ông Hồ Văn L có vay và còn nợ ông Nguyễn Hồng N số tiền 20.000.000 đồng. Do ông L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho ông N trong thời gian dài nên yêu cầu khởi kiện ông N là phù hợp với quy định tại Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự 2015 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét yêu cầu của ông Nguyễn Hồng N về việc yêu cầu ông Hồ Văn L có trách nhiệm giao trả cho ông số tiền lãi của số tiền vốn vay 20.000.000 đồng tính từ 01/2025 đến tháng 9/2025, lãi suất là 1.66%/ tháng với số tiền 2.988.000 đồng, ông N đồng ý cấn trừ 1.000.000 đồng tiền lãi đã nhận. Xét thấy: Do ông L vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho ông N trong một thời gian dài đã ảnh hưởng đến quyền lợi của ông N. Mặt khác thời gian tính lãi và mức lãi suất ông N yêu cầu là phù hợp với quy định tại khoản Điều 468 Bộ Luật dân sự 2015 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về phát biểu và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5 ] Về án phí: Căn cứ theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí tòa án;
Ông Hồ Văn L là người cao tuổi nên được miễn nộp toàn bộ.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 147, 227, 244, 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Các Điều 463, 466. Điều 357, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hồng N.
Buộc ông Hồ Văn L có trách nhiệm giao trả cho ông Nguyễn Hồng N số tiền 21.988.000 đồng (gồm vốn là 20.000.000 đồng, tiền lãi 1.988.000 đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
Ông Hồ Văn L là người cao tuổi nên được miễn nộp toàn bộ.
Ông Nguyễn Hồng N được Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 508.000 (Năm trăm lẽ tám nghìn) đồng theo biên lai thu số 0011401 ngày 17/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trường hợp bản, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Vĩnh Long - VKSND khu vực 5 – Vĩnh Long; -THADS tỉnh Vĩnh Long; - Các đương sự; - Lưu HSVA+VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Huỳnh Thị Phê |