vanban.org

Bản án 88/2024/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Thay đổi nuôi con"
  • Căn cứ chính? Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 16/7/2024
V/v “Yêu cầu thay đổi người
trực tiếp nuôi con sau ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Nhi.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Đức Tân

2. Bà Phan Thị Thảo Sương

- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Anh Thy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú Đông tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Khắc Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 07 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 191/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2023 về tranh chấp:“Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2024/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 75/2024/QD0ST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hoàng K, sinh năm 1985.

Địa chỉ :422D3, ấp A, xã M, thành phố B, tỉnh B.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng Y, sinh năm 1990;

Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang;

( Anh K có mặt, chị Y vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn, anh Nguyễn Hoàng K trình bày:

Tôi và chị Y ly hôn theo Quyết định thuận tình ly hôn số 41/2022/QĐST-HNGĐ ngày 09/3/2022 của Tòa án nhân dân thành phố B. Theo nội dung quyết định số 41/2022/QĐST-HNGĐ ngày 09/3/2022 chị Yến được trực tiếp nuôi con chung là cháu Nguyễn Hoàng Kim N, sinh ngày 07/6/2020. Tôi không cấp dưỡng nuôi con. Tôi được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Tuy nhiên, sau khi ly hôn, chị Y cản trở, không cho tôi thăm con. Tôi có trình báo chính quyền xã P để được giải quyết nhưng chính quyền xã không giải quyết được. Việc chị Y cản trở tôi trong việc thăm nom, chăm sóc con chung là vi phạm nghĩa vụ của người trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con theo nội dung trong Quyết định số 41/2022/QĐST-HNGĐ ngày 09/3/2022. Mặt khác, hiện nay chị Y không có nhà ở riêng (chị Y ở nhờ nhà cha mẹ) và đang đi làm công nhân, có thu nhập thấp nên không có điều kiện tốt để chăm sóc con. Ngược lại, tôi có thu nhập từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng/tháng, có nhà ở riêng nên tôi có điều kiện về chỗ ở về kinh tế tốt hơn chị Y.

Theo đơn khởi kiện ngày 27/11/2023, tôi yêu cầu được thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn; yêu cầu chị Nguyễn Thị Hồng Y giao cháu Nguyễn Hoàng Kim N cho tôi trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi 18 tuổi. Tôi không yêu cầu chị Y cấp dưỡng nuôi con.

Đến nay, do tôi không có chứng cứ chứng minh chị Y không đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nên tôi xin rút lại yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.

* Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng như Thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa,… cho chị bị đơn Nguyễn Thị Hồng Y hợp lệ. Nhưng chị Y không đến tòa án cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu xin thay đổi người nuôi con của anh K.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú Đông phát biểu ý kiến

- Về thẩm quyền thụ lý, việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong giai đoạn chuẩn bị xét xử như: Thu thập chứng cứ, tống đạt văn bản tố tụng, thời hạn chuẩn bị xét xử,…; việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng; tất cả thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 217; khoản 1, 3 Điều 218; khoản 2 Điều 219 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH.14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu xin rút yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn của anh K. Đình chỉ xét xử vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật, phạm vi khởi kiện

Anh Nguyễn Hoàng K khởi kiện chị Nguyễn Thị Hồng Y về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn. Đây là vụ án tranh chấp theo quy định tại khoản 3 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án huyện Tân Phú Đông. Bị đơn không có yêu cầu phản tố.

Theo “Hợp đồng ủy quyền” ngày 20/11/2023, anh K ủy quyền cho anh Nguyễn Thanh T và anh Trần Quang K tham gia tố tụng. Ngày 15/7/2024, anh K có đơn xin rút việc ủy quyền để được trực tiếp tham gia phiên tòa xét xử lúc 07 giờ 30 phút ngày 16/7/2024. Xét thấy, việc anh K xin rút lại việc ủy quyền cho anh T và anh K tham gia tố tụng là quyền định đoạt của đương sự, phù hợp quy định pháp luật nên chấp nhận.

Bị đơn chị Nguyễn Thị Hồng Y vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ 2 (không có lý do). Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân dự 2015, xét xử vụ kiện vắng mặt chị Y.

Về nội dung yêu cầu khởi kiện

Theo đơn khởi kiện ngày 27/11/2023, anh K yêu cầu được thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn; yêu cầu chị Nguyễn Thị Hồng Y giao cháu Nguyễn Hoàng Kim N cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi 18 tuổi. Anh K không yêu cầu chị Y cấp dưỡng nuôi con.

Tại phiên tòa, anh K xin rút lại yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của anh K và không trái quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về quan điểm của Kiểm sát viên:

Anh K xin rút lại yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn là sự tự nguyện của đương sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 217; khoản 1, 3 Điều 218; khoản 2 Điều 219 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của anh K.

Về án phí:

- Anh K được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định tại khoản 3 Điều 218 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Chị Nguyễn Thị Hồng Y không phải nộp án phí sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Điều luật áp dụng:

- Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điều 147, Khoản 2 Điều 217, khoản 1, 3 Điều 218; khoản 2 Điều 219; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Hoàng K về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.

2. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án:

- Anh Nguyễn Hoàng K có quyền khởi kiện lại vụ án theo quy định của pháp luật.

- Về án phí: Trả cho anh Nguyễn Hoàng K số tiền tạm ứng án phí phải nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, theo biên lai thu số 0001546, ngày 08/12/2023, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú Đông.

3. Các đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ