vanban.org

Bản án 88/2023/HSST — Hình sự

TAND TX. Kim Bảng, tỉnh Hà Nam Tuyên án 26/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 50; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân Kh phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân Kh 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù, tính từ ngày tạm giữ ngày 05/7/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân Kh phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 50; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIM BẢNG
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2023/HS-ST
Ngày 26 - 9 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Nguyệt.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đinh Tuấn Anh.

Bà Trần Thị Nhàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 84/2023/HS-ST ngày 14 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2023/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 9 năm 2023 đối với:

- Bị cáo: Nguyễn Xuân Kh, sinh năm 2003, tại tỉnh Điện Biên; nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã N, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên; chỗ ở: Thôn Nh, xã Nh, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Phan Thị V; vợ, con: Chưa có; tiền sự, tiền án: Không; tạm giữ ngày 05/7/2023, tạm giam ngày 14/7/2023; có mặt.

- Bị hại: Anh Bùi Việt T, sinh năm 2001. Địa chỉ: Thôn Nh, xã Nh, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Phạm Trung H, sinh năm 1995; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Xuân Kh, sinh ngày 04/7/2003 tại xã N, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên, thuê trọ tại phòng 301 khu trọ của anh Phạm Trung H ở thôn Nh, xã Nh, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Do không có phương tiện đi lại nên Kh nảy sinh ý định trộm cắp. Khoảng 03 giờ 30 phút, ngày 25/6/2023, lợi dụng lúc mọi người đang ngủ, Kh đi đến khu để xe mô tô ở tầng 1 khu trọ, thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wawe α màu đen bạc BKS 28E1-236.48 của anh Bùi Việt T đang dựng ở khu để xe. Kh đi đến ngồi lên yên xe, dùng hai tay cầm tay lái kéo ngược hướng khóa cổ xe thì phá được khóa cổ xe. Sau đó dùng chiếc bấm móng tay bằng kim loại đã chuẩn bị sẵn từ trước bấm đứt ba sợi dây điện ở ổ khóa nằm dưới cánh yếm xe phía trước bên phải để khi đi đấu nối cho xe nổ. Sau đó Kh lên phòng, đến khoảng 6 giờ 30 phút cùng ngày khi khu trọ mở cửa, Kh đi xuống vị trí xe, dùng tay đấu 3 sợi dây điện để nổ xe rồi điều khiển xe đi Hà Nội trốn. Ngày 04/7/2023, Kh đang ở khu vực xã Đ, huyện Th, thành phố Hà Nội thì bị Công an xã Nh, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam phát hiện và đưa Kh cùng tang vật về Công an huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam làm việc.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wawe α màu trắng đen bạc BKS 28E1-236.48; 01 chiếc bấm móng tay bằng kim loại, màu trắng; 02 USB nhãn hiệu Kingston màu đen niêm phong trong phong bì có ký hiệu M1, M2. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Kh tại phòng 301 trong khu nhà trọ không thu giữa tài liệu đồ vật gì.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 29/KLĐG- HĐĐG ngày 5/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện Kim Bảng, kết luận: Theo giá thị trường ngày 25/6/2023: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wawe α màu trắng đen bạc, số máy JA39E2663753, số khung RLHJA39XNY166834, BKS 28E1-236.28, đăng ký xe năm 2022, xe đã qua sử dụng, có giá trị 13.000.000đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản là chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wawe α màu trắng đen bạc BKS 28E1-236.28 và không có yêu cầu, đề nghị gì khác về trách nhiệm dân sự.

Cáo trạng số 82/CT-VKSKB ngày 11 tháng 9 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng đã truy tố Nguyễn Xuân Kh về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân Kh phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 50; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân Kh từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Thời hạn tù, tính từ ngày tạm giữ 05/7/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 bấm móng tay bằng kim loại, màu trắng. Bị cáo nhất trí với cáo trạng, luận tội của Viện kiểm sát, không ai tranh luận gì, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Kim Bảng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến kH nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp.

Về tội danh: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Xuân Kh thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội phù hợp với bản kết luận định giá tài sản, biên bản thu giữ vật chứng, lời khai của bị hại, người làm chứng và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Tòa án có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 3 giờ 30 phút ngày 25/6/2023, tại thôn Nh, xã Nh, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của anh Bùi Việt T, sinh năm 2001, nơi ở: Thôn Nh, xã Nh, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Nguyễn Xuân Kh đã lén lút trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wawe α màu trắng đen bạc BKS 28E1-236.28 của anhBùi Việt T, trị giá 13.000.000đồng. Hành vi đó của Nguyễn Xuân Kh đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, đó là quyền sở hữu về tài sản của công dân. Bị cáo lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của bị hại đã lén lút cầm tay lái, bẻ cổ xe ngược hướng khóa cổ để thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện sự liều lĩnh, coi thường pháp luật, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Xét về mặt chủ quan của tội phạm, bị cáo thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, biết rõ tài sản của người khác nhưng vẫn chiếm đoạt để thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Do đó hành vi phạm tội của bị cáo phải được xử phạt nghiêm minh.

Về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu.

Về hình phạt:

Hình phạt chính: Từ những phân tích trên, Tòa án cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự để ra mức hình phạt nghiêm minh như đề nghị mức xử phạt của Viện Kiểm sát là phù hợp pháp luật.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, gia đình thuộc hộ nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại đầy đủ tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên về trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về xử lý vật chứng: 01 bấm móng tay bằng kim loại, màu trắng là công cụ phạm tội nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 02 chiếc USB ghi lại hình ảnh trích xuất camera là tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên lưu giữ hồ sơ vụ án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 50; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự. Khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm lệ phí, án phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân Kh phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân Kh 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù, tính từ ngày tạm giữ ngày 05/7/2023.

2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bấm móng tay bằng kim loại, màu trắng (Tình trạng, đặc điểm vật chứng, tài sản như biên bản giao nhận giữa cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Kim Bảng ngày 13/9/2023).

3. Án phí: Bị cáo Nguyễn Xuân Kh phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ