vanban.org

Bản án 88/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 07/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo VTD phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo VTD 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/8/2023. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo VTD phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo VTD phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HTH
TỈNH TN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2023/HSST
Ngày 07-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HTH TỈNH TN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Vân.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Cao Tấn Kiệt.

2. Bà Huỳnh Thị Thanh Phương

- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Sử Ngọc Quân– Thư ký Tòa án nhân dân thị xã HTH, tỉnh TN.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã HTH, tỉnh TN tham gia phiên tòa: Ông Lê Công Tiến – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã HTH, tỉnh TN xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 86/2023/HSST ngày 02 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: VTD, sinh ngày 13/4/2003, tại tỉnh TN; Nơi thường trú: ấp TH, xã TĐ, huyện CT, tỉnh TN; Nơi tạm trú: ấp LH, xã TRT, thị xã HTH, tỉnh TN; Nghề nghiệp: Không có; Trình độ văn hóa: 08/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Cao Đài; Giới tính: Nam; Con ông VTC, sinh năm 1983 (đã chết) và bà NTXD, sinh năm 1987 (đã chết); Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 23/8/2023, tạm giam ngày 02/9/2023 đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo VTD là đối tượng sử dụng ma túy. Ngày 19/8/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên bị cáo D.đến khu vực khu phố HTR, phường HTA., thị xã HTH, tỉnh TN để mua ma túy của người tên C. (không rõ nhân thân, địa chỉ) với số tiền 1.400.000 đồng, đem về cất giấu để dành sử dụng. Vào lúc 23 giờ 30 phút, ngày 23/8/2023, lực lượng Công an xã TRT, thị xã HTH, tỉnh TNkiểm tra nhà số 28, tổ 23, ấp LH, xã TRT, thị xã HTH, tỉnh TN phát hiện, bắt quả tang bị cáo D. cất giấu trong 01 kệ bằng gạch ở phía sau nhà 05 (năm) bịch nylon loại bóp dính miệng chứa chất tinh thể màu trắng, được niêm phong, ký hiệu M.

Tại Kết luận giám định số 1349/KL-KTHS ngày 29/8/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TN, kết luận: Mẫu chất tinh thể màu trắng bên trong 05 (năm) bịch nylon, loại bóp dính (kí hiệu M) gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 1,6444 gam.

Qua xác minh, bị cáo D. không có tài sản nên không kê biên.

Tại Cáo trạng số: 86/CT-VKSHT ngày 31 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã HTH, tỉnh TN đã truy tố bị cáo VTD về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã HT, tỉnh TN giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo VTD về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo VTDphạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo VTD từ 01 (Một) năm tù đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo do bị cáo không có tài sản.

- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Đối với người tên C. không rõ nhân thân, địa chỉ, khi nào làm rõ, xử lý sau.

Bị cáo D.nói lời sau cùng: Bị cáo đã ăn năn hối cải, bị cáo nhận thức việc làm của bị cáo là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xử phạt mức án nhẹ để sớm đoàn tụ với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thị xã HTH, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã HTH, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo thể hiện: Tại phiên tòa, bị cáo D. khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở xác định:

Bị cáo D. khai nhận bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2022 và là đối tượng sử dụng ma túy nên ngày 19/8/2023, bị cáo D.đến khu vực khu phố HTR, phường HTA., thị xã HTH, tỉnh TN để mua ma túy của người tên C. (không rõ nhân thân, địa chỉ) với giá tiền 1.400.000 đồng về cất giấu để sử dụng, thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Vào lúc 23 giờ 30 phút, ngày 23/8/2023, tại nhà số 28, tổ 23, ấp LH, xã TRT, thị xã HTH, tỉnh Tây Ninh, lực lượng Công an xã TRT, thị xã HTH, tỉnh TN tiến hành khám xét, bắt quả tang bị cáo D. có hành vi tàng trữ trái phép 1,6444 gam chất ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng. Bị cáo D. dù không có tiền án, tiền sự nhưng là đối tượng nghiện ma túy, hành vi của bị cáo D. đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã HTH, tỉnh TN giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng và lời luận tội là có căn cứ, đúng pháp luật.

Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước. Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật, việc sử dụng ma túy sẽ làm lây truyền các căn bệnh thế kỷ như HIV và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác, nhưng bất chấp hậu quả, bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo D. thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo không có tài sản.

Về thu giữ vật chứng: 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số 1349, có chữ ký của Giám định viên VQT, trợ lý TMP và dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh TN. Khối lượng sau giám định: M: 1,5041 gam.

Đối với người tên C. không rõ nhân thân, địa chỉ, khi nào làm rõ, xử lý sau.

Bị cáo phải chịu án phí theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo VTD phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo VTD 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/8/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số 1349, có chữ ký của Giám định viên VQT, trợ lý TMP và dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh TN. Khối lượng sau giám định: M: 1,5041 gam.

3. Về án phí: Bị cáo VTD phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh TN trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ