- Tranh chấp gì? án hình sự — "hs - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Quang P phạm tội: Cướp giật tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 88/2023/HSST. Ngày: 26 - 5 - 2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông: Nguyễn Văn Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Tô Văn Ngọc
Ông: Phạm Mạnh Hà
- Thư ký phiên toà: Bà: Nguyễn Thị Hường - Thẩm tra viên Toà án nhân
dân huyện Đông Anh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội
tham gia phiên toà: Bà: Dương Thị Hiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 26/5/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố
Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 78/2023/HSST ngày 27/4/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
Lê Quang P, sinh năm 1995 tại Hà Nội. Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Khu 7,
thôn Thuỵ Lôi, xã Thuỵ Lâm, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Quang K, sinh năm: 1964; Con bà: Ngô Thị M, sinh năm: 1967; Vợ: Nguyễn Phương L, sinh năm 2000; Tiền án tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/02/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
- Chị Trần Thị H, sinh năm 1998
Địa chỉ: Khu 7, thôn Thuỵ Lôi, xã Thuỵ Lâm, huyện Đông Anh, thành
phố Hà Nội. Ủy quyền cho ông Trần Văn C, sinh 1975 Địa chỉ: Khu 7, thôn Thuỵ Lôi, xã Thuỵ Lâm, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng công khai
tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22h20’ ngày 19/01/2023, chị Trần Mỹ H1 (sinh năm 2001; trú
tại: Khu 7, thôn Thụy Lôi, xã Thuỵ Lâm, huyện Đông Anh, TP Hà Nội) điều khiển xe đạp điện chở chị Trần Thị H (sinh năm 1998 ở cùng khu 7 là chị ruột chị H1) trên đường ngõ thuộc khu 7, thôn Thụy Lôi, chị H tay phải đang cầm sử dụng chiếc điện thoại Iphone 11, dung lượng 64GB màu xanh, bên trong gắn số thuê bao 0375620028. Lê Quang P một mình điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn: đen - bạc, Biển kiểm soát: 29S2 - 116.73 trên đường đi về nhà tại khu 7, thôn Thụy Lôi nhìn thấy chị H đang sử dụng điện thoại di động nên nảy sinh ý định cướp giật tài sản. P điều khiển xe máy bám theo chị H1 và chị H được khoảng 10m đến khu vực ngã 3 khu 7, thôn Thụy Lôi thì vượt lên phía bên phải xe chị H1, tay trái giật chiếc điện thoại của chị H rồi phóng xe máy bỏ chạy về hướng đền Sái xã Thụy Lâm. Khi về đến nhà, P vào phòng ngủ của mình kiểm tra điện thoại cướp giật được thấy máy khóa màn hình và đặt mật khẩu iCloud nên tắt nguồn, tháo sim, tháo ốp phía sau máy và cất giấu tại phòng ngủ trong nhà P.
Khoảng 21h00’ ngày 21/01/2023, P đi một mình đến quán điện thoại
“M1 N” địa chỉ khu 6, thôn Thụy Lôi gặp anh Trương Đăng M1 (sinh năm 1986; trú tại: Khu 6, thôn Thụy Lôi, xã Thuỵ Lâm, huyện Đông Anh, TP Hà Nội - Là chủ quán) nói muốn bán chiếc điện thoại Iphone 11, màu xanh, máy có mật khẩu, có iCloud của P nhưng bị quên mật khẩu. Anh M1 xem điện thoại rồi trả giá 1.600.000 đồng, P đồng ý bán, Anh M1 trả P 600.000 đồng tiền mặt và chuyển khoản 1.000.0000 đồng từ số tài khoản 0541000200068 tại ngân hàng Vietcombank tên Trương Đăng M1 đến tài khoản 0844461995 tại ngân hàng MSB tên Lê Quang P. P nhận tiền đi về, tiêu sài hết số tiền trên.
Do vào dịp Tết Nguyên đán năm 2023 nên chị H không trình báo Cơ
quan Công an. Đến ngày 02/02/2023, chị Trần Thị H đến Công an xã Thụy Lâm - Công an huyện Đông Anh trình báo nội dung sự việc.
Khoảng 17h40’ ngày 02/2/2023, do là người cùng thôn Thụy Lôi với P
nên anh M1 biết thông tin nghi ngờ điện thoại Iphone 11 đã mua là do P phạm tội mà có nên gọi P đến nhà hỏi “điện thoại mày lấy trộm à”, P trả lời “không, điện thoại của em”. Anh M1 yêu cầu P chuộc lại chiếc điện thoại Iphone 11. P đồng ý trả lại cho anh M1 1.600.000 đồng (vì không có tiền mặt nên bị can P gửi anh M1 chiếc điện thoại Samsung Galaxy S9 làm tin) và mang điện thoại Iphone 11 cướp giật được của chị H về. Khi về nhà P biết việc chị Trần Thị H (hàng xóm với nhà P) trình báo Cơ quan Công an về việc bị cướp giật tài sản nên cùng ngày P mang chiếc điện thoại cướp giật được đến nhà chị H trả. Do chị H không có nhà, P đưa máy điện thoại trên cho ông Trần Văn C (sinh năm 1975 ở cùng khu 7, thôn Thuỵ Lôi là bố chị H). Đến ngày 03/02/2023, P lên Công an xã Thụy Lâm đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội.
Vật chứng tạm giữ:
- Của ông Trần Văn C: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone
11, màu xanh.
- Của chị Trần Thị H: 01 phiếu bảo hành của cửa hàng điện thoại Xanh
địa chỉ Khu 6, thôn Thụy Lôi, xã Thụy Lâm, huyện Đông Anh.
- Của anh Hoàng Văn H2 (sinh ngày 05/10/2007; trú tại: Thôn Ngọc
Chi, xã Vĩnh Ngọc, huyện Đông Anh, TP Hà Nội):01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn: đen bạc, Biển kiểm soát: 29S2- 116.73, số khung: 300886, số máy: 2797877 đã qua sử dụng; 01 đăng ký xe bản phô tô.
- Của Lê Quang P: 01 sim điện thoại số thuê bao 0375620028 và 01 ốp
điện thoại màu xanh.
- Của anh Trương Đăng M1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy
S02, màu xám.
- Của chị Nguyễn Thị N (sinh năm 1992; trú tại: Khu 6, thôn Thụy Lôi,
xã Thuỵ Lâm, huyện Đông Anh, TP Hà Nội là vợ anh M1):01 USB 8G, màu đỏ, bên trong chứa dữ liệu video camera bị can P bán điện thoại Iphone 11 cho anh M1 tại quán điện thoại “M1 N”.
Ngày 29/3/2023 Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện
Đông Anh có Kết luận định giá tài sản số 63/HĐĐGTS kết luận: Chiếc điện thoại Iphone 11 dung lượng 64GB, màu xanh, bên trong lắp sim số 0375620028, bên ngoài lắp ốp nhựa của chị H bị P cướp giật tổng trị giá: 7.100.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra Lê Quang P khai nhận hành vi phạm tội phù hợp
với tài liệu chứng cứ thu thập được.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu xanh tạm
giữ của ông Chiến, 01 sim điện thoại số thuê bao 0375620028 và 01 ốp điện thoại màu xanh đã tạm giữ của Lê Quang P là tài sản hợp pháp của chị Trần Thị H, Quá trình điều tra chị H đã ủy quyền cho ông Trần Văn Chiến (là bố chị H) liên hệ với Cơ quan điều tra để giải quyết vụ án. Ngày 25/02/2023, Cơ quan điều tra Quyết định xử lý vật chứng trả cho ông Chiến.
Đối với 01 phiếu bảo hành của điện thoại Iphone 11 tại cửa hàng điện
thoại Xanh tạm giữ của chị Trần Thị H có liên quan đến vụ án, chị H không đề nghị nhận lại, Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ lưu trong hồ sơ vụ án phục vụ công tác xét xử.
Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn: đen bạc, BKS:
29S2- 116.73và 01 đăng ký xe phô tô đã tạm giữ của anh Hoàng Văn H2 là tài sản hợp pháp của anh H2. Anh H2 không biết việc bị can P sử dụng xe máy để đi thực hiện hành vi phạm tội. Ngày 25/02/2023, Cơ quan điều tra Quyết định xử lý vật chứng trả cho anh H2.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy S02, màu xám tạm
giữ của anh Trương Đăng M1 có liên quan đến việc anh M1 chuyển hình thức Internet Banking số tiền 1.000.000 đồng để mua điện thoại Iphone 11 do P bán, Cơ quan điều tra đã kiểm tra sao nội dung giao dịch lưu hồ sơ, không cần thiết tiếp tục tạm giữ. Ngày 28/3/2023, Cơ quan điều tra Quyết định xử lý vật chứng trả cho anh M1.
Đối với 01 USB 8G, màu đỏ, bên trong chứa dữ liệu video camera bị
can P bán điện thoại Iphone 11 cho anh M1 tại quán điện thoại “M1 N” tạm giữ của chị Nguyễn Thị N có liên quan đến vụ án, Cơ quan điều tra đã kiểm tra, sao lưu hình ảnh lưu hồ sơ, chị N đề nghị không nhận lại, tiếp tục tạm giữ lưu trong hồ sơ vụ án phục vụ công tác xét xử.
Đối với chiếc điện thoại Samsung Galaxy S9 của P gửi anh M1 làm tin
để chuộc điện thoại Iphone 11 vì chưa có 1.600.000 đồng trả cho anh M1, anh M1 vẫn đang quản lý. P đề nghị khi nào chấp hành án xong P sẽ tự thỏa thuận giải quyết với anh M1.
Về phần dân sự: Ông Trần Văn Chiến được chị Trần Thị H ủy quyền,
ông Chiến đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì khác, đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho P.
Tại bản Cáo trạng số 75/CT-VKS-ĐA ngày 26/4/2023 của Viện Kiểm
sát nhân dân huyện Đông Anh truy tố Lê Quang P về tội Cướp giật tài sản quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản
Cáo trạng. Nay bị cáo rất ân hận về hành vi của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để sớm có cơ hội trở về làm lại cuộc đời.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh giữ quyền công tố
tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như Cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử phạt: Lê Quang P với mức án từ 42 tháng đến 48 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về phần dân sự: Không đặt ra.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, Điều tra viên Công an huyện Đông Anh đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, cũng như quá trình
điều tra bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ. Do đó có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 22h20’ ngày 19/01/2023 tại Khu 7, thôn Thuỵ Lôi, xã Thuỵ Lâm, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội Lê Quang P điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave Biển kiểm soát: 29S2 - 116.73 vượt lên phía bên phải xe đạp điện do chị H1 đang đi trên đường, tay trái giật chiếc điện thoại Iphone 11 dung lượng 64GB, bên trong lắp sim số 0375620028, bên ngoài lắp ốp nhựa tổng trị giá: 7.100.000 đồng của chị Trần Thị H đang ngồi sau xe chị H1 rồi phóng xe máy bỏ chạy. Hành vi ấy của bị cáo đã cấu thành tội về tội Cướp giật tài sản quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh đã truy tố Lê Quang P theo bản Cáo trạng số 75/CT-VKS-ĐA ngày 26/4/2023 là có căn cứ.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài
sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự công cộng, làm ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt đời sống xã hội. Do đó việc đưa bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật là cần thiết nhằm răn đe, giáo dục bị cáo đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Bộ luật hình sự quy định để có một mức hình phạt cho tương xứng.
Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện trả lại tài sản
chiếm đoạt cho người bị hại, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ, bãi nại hình phạt cho bị cáo và sau khi phạm tội đã ra đầu thú. Đó là tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Nhưng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo thì các tình tiết giảm nhẹ chỉ để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt và cần thiết phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tại trại giam trong thời hạn nhất định mới có đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội và còn có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Tại Khoản 5 Điều 171 Bộ luật hình sự còn
quy định về hình phạt phụ, nhưng xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng, nên miễn không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về phần dân sự: Người bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường,
nên không xét.
Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra Công an huyện Đông Anh đã
xử lý theo quy định.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định
của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo
quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Quang P phạm tội: Cướp giật tài sản.
Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều
51 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Lê Quang P 03 (ba) năm tù về tội Cướp giật tài sản, thời
hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 03/02/2023.
Về dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của các bên không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
Bị cáo Lê Quang P phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn
15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ ./.
| Nơi nhận: - VKS ND huyện Đông Anh; - Công an huyện Đông Anh; - Cơ quan Thi hành án hình sự; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Khánh |