- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà Đặng Thị KIm M ly hôn, tranh chấp về nuôi con với ông Nguyễn Văn Hiệp"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Đặng Thị Kim M được ly hôn với ông Nguyễn Văn H1.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 88/2023/HNGĐ-ST Ngày: 19/9/2023 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,
TỈNH NINH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Bình và ông Lê Huỳnh Sinh
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Việt Hùng - Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh H - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 309/2023/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 57/2023/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Kim M - sinh năm 1994.
Nơi cư trú: Thôn C, xã T, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H1 - sinh năm 1990.
Nơi cư trú: Thôn C, xã T, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/5/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Đặng Thị Kim M trình bày:
Bà M và ông H1 tổ chức lễ cưới hỏi và đăng ký kết hôn ngày 01/6/2015 tại Ủy ban nhân dân xã T, TP . - T. Sau khi kết hôn vợ chồng thuê nhà tại thôn C, xã T, TP . - T để ở. Quá trình chung sống không hạnh phúc, nguyên nhân là ông H1 thường xuyên ăn nhậu, đánh đập, chửi và xúc phạm bà M; Ông H1 không chăm lo cho gia đình. Bà M và ông H1 đã ly thân cuối năm 2016 cho đến nay. Bà M đã cùng con về sống chung với cha mẹ ruột tại thôn C, xã T, TP . - T. Ông H1 về sống với cha mẹ ruột của ông H1.
Quá trình ly thân bà M và ông H1 mạnh ai nấy sống, không quan tâm gì đến nhau và không ai đặt vấn đề quay lại sống chung. Nay, tình cảm vợ chồng không còn bà M yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Nguyễn Văn H1.
Về con chung: Bà M và ông H1 có 01 con chung Nguyễn Thanh S, sinh ngày 25/12/2015; Bà M yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông H1 phải cấp dưỡng nuôi con.
Bà M làm mua bán phế liệu, mức thu nhập khoảng 7.000.000 đồng/ tháng, đủ điều kiện để nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chưa yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn H1 : Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông H1 nhưng ông H1 vẫn vắng mặt không có lý do.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự giải quyết vắng mặt bị đơn.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Đặng Thị Kim M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp nuôi con với bị đơn ông Nguyễn Văn H1. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú ở thôn C, xã T, TP . - T nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân TP. Phan Rang - T theo khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với việc vắng mặt của bị đơn: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, cùng với tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án để làm cơ sở giải quyết và xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.
Về nội dung tranh chấp:
Bà Đặng Thị Kim M và ông Nguyễn Văn H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi và có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã T, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 46/2015 ngày 01/6/2015, đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Về quan hệ hôn nhân, xét thấy: Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Tuy nhiên, sau khi kết hôn đời sống vợ chồng không hạnh phúc, nguyên nhân do ông H1 thường xuyên ăn nhậu, đánh đập, chửi và xúc phạm bà M; Ông H1 không chăm lo cho gia đình. Bà M và ông H1 đã ly thân cuối năm 2016 cho đến nay. Quá trình ly thân bà M và ông H1 mạnh ai nấy sống, không quan tâm đến nhau và không ai đặt vấn đề quay lại sống chung. Tình trạng mâu thuẫn giữa bà M và ông H1 được Ủy ban nhân dân xã T xác nhận ngày 01/8/2023. Ông H1 biết việc bà M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng không tham gia tố tụng thể hiện ông H1 không có thiện chí và không có nguyện vọng hàn gắn tình cảm vợ chồng. Vì vậy, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xét thấy hôn nhân giữa bà M và ông H1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.
Về con chung: Bà M và ông H1 có 01 con chung tên Nguyễn Thanh S, sinh ngày 25/12/2015; Xét yêu cầu nuôi con của nguyên đơn Hội đồng xét xử xét thấy: Cháu S có nguyện vọng được ở với bà M, từ khi sinh ra đến nay cháu S ở với bà M được bà M chăm sóc, giáo dục tốt. Bà M đi làm thuê mức thu nhập khoảng 7.000.000 đồng/ tháng, đủ điều kiện để nuôi con nên Hội đồng xét xử giao con cho bà M nuôi dưỡng là phù hợp pháp luật. Bà M không yêu cầu ông H1 phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.
Tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn chưa yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xét.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố P - T tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ và đúng pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Đặng Thị Kim M được ly hôn với ông Nguyễn Văn H1.
2. Về con chung: Giao cho bà Đặng Thị Kim M được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thanh S, sinh ngày 25/12/2015. Ông Nguyễn Văn H1 không phải cấp dưỡng nuôi con do bà M không có yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về án phí: Bà Đặng Thị Kim M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) Bà M đã nộp theo biên lai thu tiền số 0005312 ngày 12 tháng 5 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận. Bà Đặng Thị Kim M đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND TP. PR-TC; - Chi cục THADS TP. PR-TC; - UBND xã Thành Hải, TP. PR-TC (GKH số 46 ngày 01/6/2015); - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Hùng |