- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị T xin ly hôn anh B"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị T và anh Bùi Văn B được ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 88/2023/HNGĐ-ST Ngày: 08/9/2023 V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cúc
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Dần
2. Bà Nguyễn Thị Hà
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Hùng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàn - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 104/2023/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 6 năm 2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2023 và Quyết định Hoãn phiên tòa số: 50/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 21/8/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị T; Sinh năm 1991
Địa chỉ: Thôn Đầm H, xã T, Huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Bùi Văn B; Sinh năm 1985
Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện đề ngày 28/6/2023 và bản tự khai, chị Bùi Thị T trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Bùi Văn B kết hôn tự nguyện có đăng kí kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa ngày 19/11/2009. Sau khi cưới vợ chồng sống hòa thuận được 9 năm thì mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hòa hợp, không cùng chung quan điểm sống nên thường xuyên sảy ra cãi cọ, cuộc sống gia đình không hạnh phúc. Thêm vào đó, anh B không chịu khó làm ăn, không quan tâm đến gia đình, vợ con. Tiền bạc làm ra anh B đều đem đánh lô đề, bài bạc, rượu chè và còn ghen tuông vô cớ. Đầu năm 2019, do mâu thuẫn quá lớn nên chị đưa 02 con về nhà ngoại. Chị cũng mong anh B sẽ thay đổi tính nết để vợ chồng đoàn tụ, cùng nhau nuôi dạy con cái nhưng anh B lại đem dao xuống nhà ngoại để chém chị, cũng trong hôm đó anh B đã đưa 2 con về và không cho chị được gặp con. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống được nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh B.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Bùi Tuấn K, sinh ngày 18/12/2009 và Bùi Tuấn Kh, sinh ngày 20/11/2017. Ly hôn, chị T yêu cầu giao 02 con cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng, chị cấp dưỡng nuôi con cùng anh Bình mỗi tháng mỗi cháu là 1.000.000đ (Một triệu đồng), hai cháu là 2.000.000đ (Hai triệu đồng)/tháng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
Về tài sản: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, anh Bùi Văn B trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị Bùi Thị T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa ngày 19/11/2009. Sau khi kết hôn, vợ chồng hòa thuận được 9 năm thì phát sinh mẫu thuẫn. Nguyên nhân là do chị T có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác nên đã bỏ gia đình đi 4 năm nay, khi cháu nhỏ chưa đầy 2 tuổi. Anh cũng đã bỏ qua và động viên chị T quay về nhưng chị T không về và vợ chồng cũng đã sống ly thân từ đó. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh cũng đồng ý ly hôn với chị T.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Bùi Tuấn K, sinh ngày 18/12/2009 và Bùi Tuấn Kh, sinh ngày 20/11/2017. Ly hôn, anh B yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con và yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con cùng anh mỗi tháng mỗi cháu là 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng), hai cháu là 5.000.000đ (Năm triệu đồng)/tháng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Nếu chị T không cấp dưỡng nuôi con đủ số tiền mà anh yêu cầu thì anh sẽ không nuôi con và đề nghị được giao cả 02 con cho chị T nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con chung chùng chị T.
Về tài sản: Anh B không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, chị T xin thay đổi về việc nuôi con chung: Chị T trình bày, do chị làm công nhân mức lương chỉ có 7.000.000đ (Bảy triệu đồng) nên chị không thể cấp dưỡng tiền nuôi con theo yêu cầu của anh B được. Nếu anh B không đồng ý với mức cấp dưỡng mà chị đề nghị thì chị yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Tuấn K, giao cháu Tuấn Kh cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Tòa án cũng đã yêu cầu anh B cung cấp mức lương, thu nhập của chị T để Tòa án có căn cứ chấp nhận mức cấp dưỡng mà anh B yêu cầu nhưng anh B không cung cấp được.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
Về tố tụng: Tòa án đã xác định đúng quan hệ pháp luật và tư cách tố tụng của các đương sự trong vụ án. Từ giai đoạn thụ lý vụ án cho đến khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án cũng như các thành viên của Hội đồng xét xử (Sau đây viết tắt là HĐXX) và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (Sau đây viết tắt là BLTTDS). Nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của BLTTDS.
Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình. Về hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị T và anh Bùi Văn B được ly hôn; Về con chung: Giao cháu Bùi Tuấn K, sinh ngày 18/12/2009 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Bùi Tuấn Kh, sinh ngày 20/11/2017 cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
. Về tố tụng: Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình có con chưa thành niên và trong quá trình giải quyết vụ án, do các bên đương sự chưa thống nhất được các vấn đề tranh chấp trong vụ án nên Tòa án đã tiến hành xác minh để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp theo khoản 3 Điều 208 BLTTDS và đã thông báo kết quả thu thập tài liệu chứng cứ cho các bên đương sự cũng nhưng VKS được biết.
. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho các bên đương sự nhưng anh B không có mặt nên tòa án đã mở phiên họp vắng mặt anh B và thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ cho anh B theo khoản 3 Điều 210 BLTTDS.
. Nguyên đơn là chị Bùi Thị T có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 BLTTDS.
. Tại phiên tòa, chị T vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, anh B vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 BLTTDS, Toà án xét xử vắng mặt chị T và anh B.
. Về hôn nhân: Chị Bùi Thị T và anh Bùi Văn B kết hôn tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa ngày 19/11/2009 và không vi phạm các điều cấm của Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng hòa thuận được 9 năm thì mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hòa, không cùng chung quan điểm sống, không tin tưởng nhau trong chuyện tình cảm, thêm vào đó, gia đình lại khó khăn về kinh tế nên cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Việc này, cả chị T và anh B đều thừa nhận và cũng phù hợp với nội dung mà Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương. Nay cả chị T và anh B đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống với nhau được nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh, chị được ly hôn. HĐXX nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần căn cứ điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Bùi Thị T và anh Bùi Văn B được ly hôn.
. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung. Xét thấy, cháu K có nguyện vọng được ở với mẹ, còn cháu Kh lâu nay vẫn ở với bố. Do đó, nên chấp nhận yêu cầu của chị T, giao cháu K cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh B trực tiếp nuôi dưỡng cháu Kh, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
. Về tài sản: Chị T và anh B không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
. Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 BLTTDS; Điều 6; Khoản 1 Điều 24; Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị T và anh Bùi Văn B được ly hôn.
2. Về con chung: Giao cháu Bùi Tuấn K, sinh ngày 18/12/2009 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Bùi Tuấn Kh, sinh ngày 20/11/2017 cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Chị T, anh B có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
3.Về án phí: Chị Bùi Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí DSST đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thành theo biên lai số AA/2021/0008093, ngày 29/6/2023. Chị T đã nộp đủ tiền án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt chị Bùi Thị T và anh Bùi Văn B. Chị T và anh B có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: -VKSND huyện Thạch Thành -UBND xã T; -Các đương sự -Lưu HSVA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Cúc |