vanban.org

Bản án 88/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30.

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa Nguyễn Kim Tr và Trần Thiện T. Về nuôi con chung: Giao cháu Trần Thành Đ (Nam), sinh ngày 13 tháng 9 năm 2006 cho Nguyễn Kim Tr được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc khi chị Tr, anh T có yêu cầu khác. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHỤNG HIỆP
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:88/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 18 - 5 - 2023
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP-TỈNH HẬU GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Liêm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Dương.

2. Ông Huỳnh Mẫn Xuyên.

-Thư ký phiên tòa: Ông Phan Công Trận – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 110/2023/TLST-HNGĐ, ngày 17 tháng 02 năm 2023 về việc “Tranh chấp Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2023/QĐXXST-HN, ngày 20 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Nguyễn Kim Tr, sinh năm 1974.

Địa chỉ: ấp A1, xã L, huyện H, tỉnh Hậu Giang.

2. Bị đơn: Trần Thiện T, sinh năm 1972.

Địa chỉ: ấp A1, xã L, huyện H, tỉnh Hậu Giang.

Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết, nguyên đơn Nguyễn Kim Tr (Sau đây gọi chị Tr) trình bày:

Giữa chị và bị đơn Trần Thiện T (Sau đây gọi anh T) qua tìm hiểu nhau mà tự nguyện quyết định đi đến hôn nhân vào năm 2003, có đăng ký kết hôn. Trong quá trình sống thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do chồng chị có tính gia trưởng, vợ chồng bất đồng quan điểm sống cũng như trong công việc làm ăn, mâu thuẫn về kinh tế nên hay cãi vã nhau, nhiều lần hòa giải hàn gắn tình cảm nhưng vẫn không đoàn tụ được, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022. Do cuộc sống chung không hạnh phúc, chị Tr khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

-Về hôn nhân: Xin ly hôn với anh T.

-Về con chung: Có hai người con tên: Trần Thống Q (Nam), sinh ngày 23 tháng 5 năm 2004 và cháu Trần Thành Đ (Nam), sinh ngày 13 tháng 9 năm 2006. Từ khi ly thân đến nay thì các con do nguyên đơn nuôi dưỡng. Cháu Quí đã trưởng thành. Khi ly hôn nguyên đơn cầu được tiếp tục nuôi cháu Đ mà chưa yêu cầu bị đơn cấp dưỡng.

Về nợ và tài sản chung: Chị Tr có yêu cầu chia tài sản chung. Tuy nhiên vòa ngày 24 tháng 4 năm 2023 chị Tr có đơn xin rút lại yêu cầu chia tài sản chung. Tại phiên tòa, chị Trúc xác định về tài sản thì vợ chồng chị đã thỏa thuận xong nên xin rút lại yêu cầu chia tài sản và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình tố tụng bị đơn Trần Thiện T có lời trình bày: Thừa nhận lời trình bày của nguyên đơn về quan hệ hôn nhân, thời gian ly thân, con chung. Về nguyên nhân mẫu thuẫn thừa nhận vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên hay cãi vã nhau, hiện nay còn thương vợ con nên anh chưa muốn ly hôn, nếu vợ cương quyết thì anh cũng đồng ý. Cho xin thời gian để vợ chồng đoàn tụ.

Giả sử phải ly hôn thì con chung: Đồng ý để vợ nuôi, anh chưa cấp dưỡng.

Về nợ và tài sản chung: Để vợ chồng thỏa thuận, khi không thỏa thuận được thì yêu cầu giải quyết theo quy định.

Tại biên bản ghi nhận ý kiến con chung ngày 17 tháng 3 năm 2023 và tại phiên tòa cháu Trần Thành Đ trình bày (Có sự chứng kiến của chị Tr): Khi cha mẹ cháu ly hôn, cháu có nguyện vọng được sống với mẹ.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Về thủ tục tố tụng: Tòa án, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn; giao con chung cho nguyên đơn nuôi dưỡng. Bị đơn chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Về nợ và tài sản chung, nguyên đơn rút yêu cầu nên đề nghị đình chỉ đối với yêu cầu này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tranh chấp giữa các đương sự là Tranh chấp ly hôn được qui định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.

Về thủ tục tố tụng: Trần Thiện T được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, vắng mặt không lý do nhưng không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử mở phiên tòa xét xử vắng mặt đối với đương sự.

Xét về quan hệ hôn nhân: Chị Tr và anh T qua tìm hiểu nhau, tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn ngày 31 tháng 3 năm 2003 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Hậu Giang nên hôn nhân của anh, chị là hợp pháp và được pháp luật thừa nhận.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Tr: Chị và anh T trong thời gian chung sống có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân vợ chồng bất đồng quan điểm sống mà không có giải pháp khắc phục để hoà giải hàn gắn tình cảm mà chọn cách sống ly thân, xét thời gian ly thân thì tự ai người đó sống, không ai quan tâm lo lắng cho ai. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh T chưa đồng ý ly hôn nhưng không đưa ra được giải pháp để đoàn tụ. Đồng thời, anh T vắng mặt tại phiên tòa không lý do, chứng tỏ rằng anh cũng không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này. Trong khi đó, chị Tr xác định là không còn tình cảm vợ chồng với anh T và cương quyết xin ly hôn. Từ đó thấy rằng hôn nhân giữa hai người đã thật sự lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, có cơ sở chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Tr.

Về con chung: Có một người con chung đã trưởng thành nên không xem xét về quyền nuôi con đối với người này. Đối với cháu Đạt, từ khi ly thân đến nay thì cháu sống với chị Tr, chị Tr có yêu cầu được nuôi con, cháu Đ có nguyện vọng được sống với mẹ. Nhằm tránh gây xáo trộn đời sống của cháu, cần tiếp tục giao cháu Đ cho chị Tr nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc khi chị Tr, anh T có yêu cầu khác.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị Tr chưa có yêu cầu cấp dưỡng nên không đặt ra xem xét. Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho anh T mà không ai có quyền cản trở.

Về nợ và tài sản chung: Chị Trúc tự nguyện rút yêu cầu chia tài sản chung, lý do là vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét và Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết đối với việc yêu cầu chia tài sản chung của nguyên đơn.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp theo quy định pháp luật.

Lời đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ chấp nhận;

Các đương sự được quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm c khoản 1 Điều 217, Điều 227 Bộ Luật Tố tụng dân sự. Các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30.12.2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa Nguyễn Kim Tr và Trần Thiện T.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Trần Thành Đ (Nam), sinh ngày 13 tháng 9 năm 2006 cho Nguyễn Kim Tr được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc khi chị Tr, anh T có yêu cầu khác.

Trần Thiện T chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho Trần Thiện T mà không ai có quyền cản trở.

3. Về tài sản và nợ chung: Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của Nguyễn Kim Tr về việc: Yêu cầu chia tài sản và nợ chung với Trần Thiện T. Đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó.

4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Kim Tr phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ từ 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002763, ngày 17 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang thành án phí, không phải nộp thêm.

Nguyễn Kim Tr được nhận lại 8.275.000đ (Tám triệu hai trăm bảy mươi lăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002762, ngày 17 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.

Trường hợp quyết định này được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ