vanban.org

Bản án 88/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Bùi Thị Nga M và ông Tô Văn N.

Về quyền nuôi con chung: Giao người con chung tên Tô Như P, sinh ngày 29 tháng 8 năm 2014 cho bà Bùi Thị Nga M trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Tô Văn N có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Về án phí: Bà Bùi Thị Nga M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa bà Bùi Thị Nga M với ông Tô Văn N"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Bùi Thị Nga M và ông Tô Văn N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2023/HNGĐ-ST
Ngày 28-4-2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Triều.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Minh Trọn.

Ông Đào Việt Khái.

- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Sơn Ca là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Võ Việt Trung – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 4 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 82/2023/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 182/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Nga M, sinh năm 1994 (xin vắng mặt).

Cư trú tại: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh C.

- Bị đơn: Ông Tô Văn N, sinh năm 1991 (xin vắng mặt).

Cư trú tại: Ấp T, xã R, huyện P, tỉnh C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 22 tháng 02 năm 2023 nguyên đơn bà Bùi Thị Nga M trình bày: Bà và ông Tô Văn N tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2014 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã R, huyện P, tỉnh C. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do không hòa hợp trong lối sống, vợ chồng không còn chung sống từ đầu năm 2023 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không còn

-1-hạnh phúc, cuộc sống vợ chồng không thể tiếp tục nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Tô Văn N. Trong quá trình chung sống bà và ông N có một người con chung tên Tô Như Phúc, sinh ngày 29 tháng 8 năm 2014, con chung đang do bà trực tiếp nuôi dưỡng, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung vợ chồng tự thỏa thuận, nợ chung không có nên không yêu cầu tòa án giải quyết.

- Tại bản tự khai ngày 28 tháng 3 năm 2023 bị đơn ông Tô Văn N trình bày: Vào năm 2014 ông và bà Bùi Thị Nga M chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn trại Ủy ban nhân dân xã R, huyện P, tỉnh C. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không còn tình cảm với nhau nên bà Bùi Thị Nga M yêu cầu ly hôn với ông, ông đồng ý ly hôn với bà Bùi Thị Nga M. Về con chung ông đồng ý giao người con chung cho tên Tô Như P, sinh ngày 29 tháng 8 năm 2014 cho bà Bùi Thị Nga M trực tiếp nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung tự thỏa thuận, nợ chung không có tranh chấp nên không yêu cầu giải quyết.

- Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Nga M. Cho bà M ly hôn với ông Tô Văn N; giao con chung cho bà Bùi Thị Nga M trực tiếp nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Bà Bùi Thị Nga M yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Tô Văn N, yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung. Do đó, đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.

Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Bùi Thị Nga M là nguyên đơn, ông Tô Văn N là bị đơn đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bà Bùi Thị Nga M và ông Tô Văn N.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Nga M và ông Tô Văn N tự nguyện chung sống với nhau và đăng ký kết hôn vào năm 2014 tại Ủy ban nhân dân xã R, huyện P, tỉnh C nên hôn nhân của bà Bùi Thị Nga M với ông Tô Văn N là hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Bà M yêu cầu giải quyết cho ly hôn với ông Tô Văn N vì cho rằng trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Tại bản tự khai ngày 28 tháng 3 năm 2023 ông Tô Văn N cho rằng cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên đồng ý ly hôn với bà M. Điều này cho thấy vợ chồng không còn thương yêu, chăm sóc, giúp đở lẫn nhau nên tình trạng hôn nhân giữa bà Bùi Thị Nga M với ông Tô Văn N đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét

-2-xử chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị Nga M về việc yêu cầu ly hôn với ông Tô Văn N.

Về quyền nuôi con chung: Trong quá trình chung sống bà Bùi Thị Nga M với ông Tô Văn N có một người con chung tên Tô Như P, sinh ngày 29 tháng 8 năm 2014, con chung do bà M đang trực tiếp nuôi dưỡng, bà M yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung. Tại bản tự khai ngày 28 tháng 3 năm 2023 ông Tô Văn N đồng ý giao con chung cho bà M trực tiếp nuôi nuôi dưỡng. Xét thấy sự thỏa thuận giữa bà M và ông N là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm của luật và phù hợp với nguyện vọng của người con chung thể hiện tại bản tự khai ngày 22 tháng 02 năm 2023 nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của bà M và ông N, giao người con chung tên Tô Như P, sinh ngày 29 tháng 8 năm 2014 cho bà Bùi Thị Nga M trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Tô Văn N có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Bà M không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung bà Bùi Thị Nga M và ông Tô Văn N không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân đề nghị như nêu trên là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Bùi Thị Nga M phải chịu 300.000đ, bà Như đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đ được chuyển thu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39, Điều 147; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Bùi Thị Nga M và ông Tô Văn N.

2. Về quyền nuôi con chung: Giao người con chung tên Tô Như P, sinh ngày 29 tháng 8 năm 2014 cho bà Bùi Thị Nga M trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Tô Văn N có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí: Bà Bùi Thị Nga M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000đ, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là

-3-300.000đ theo biên lai thu tiền số 0018648 ngày 22 tháng 02 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân; bà M đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm, các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ