vanban.org

Bản án 88/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị D ly hôn ông Nguyễn Ngọc Đ.

Về nuôi con chung: Giao con chung tên Nguyễn Ngọc Thiện N, sinh ngày 17/5/2011 cho bà Nguyễn Thị D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Bà D không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ đối với con chung. Người không trực tiế… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn Nguyễn Thị D, bị đơn Nguyễn Ngọc Đ"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị D ly hôn ông Nguyễn Ngọc Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG ĐIỀN
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 31-8-2023
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Di

2. Ông Phạm Hồng Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tín – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Long – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 272/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 7 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1986; (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc Đ, sinh năm 1988; (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: B tổ A, ấp L, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 19/6/2023; bản tự khai và trong quá trình tố tụng tại Tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị D trình bày:

Về hôn nhân: Bà D và ông Đ tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2010 có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau theo Giấy chứng nhận kết hôn số 252/2010, quyển số 02/2010, ngày 12/10/2010. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện không bị ai ép buộc.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc sau đó đến tháng 11/2011thì phát sinh mâu thuẫn, rạn nứt về tình cảm. Nguyên nhân do cuộc sống vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống nên tháng 12/2011 bà D và con về quê ở xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An sinh sống từ đó cho đến nay. Dù gia đình hai bên đã nỗ lự khuyên nhủ nhưng càng ngày tình cảm vợ chồng càng phai nhạt dần. Hai vợ chồng mỗi người một nơi, tình cảm vợ chồng không còn nữa.

Nay nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, vợ chồng không không còn tình cảm với nhau nên bà D yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Đ.

Về con chung: Bà D xác nhận bà và ông Đ có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Thiện N, sinh ngày 17/5/2011. Do cháu đang ở với mẹ nên bà D yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung và không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, bị đơn ông Nguyễn Ngọc Đ trình bày:

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân liên quan đến những vấn đề kinh tế, tình cảm, lo cho cuộc sống gia đình cả hai không thể giải quyết được. Nay bà D yêu cầu ly hôn thì ông Đ đồng ý.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Thiện N, sinh ngày 17/5/2011. Ông Đ đồng ý để bà D được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và ông Đ không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa: Bà D và ông Đ vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn bà D đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn ông Đ đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị D yêu cầu ly hôn, giải quyết con chung với ông Nguyễn Ngọc Đ nên xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; bị đơn ông Đ có địa chỉ cư trú tại huyện L nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn bà D và bị đơn ông Đ vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Bà D và ông Đ tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2010 có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau theo Giấy chứng nhận kết hôn số 252/2010, quyển số 02/2010, ngày 12/10/2010. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện không bị ai ép buộc.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc sau đó đến tháng 11/2011thì phát sinh mâu thuẫn, rạn nứt về tình cảm. Nguyên nhân do cuộc sống vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống nên tháng 12/2011 bà D và con về quê ở xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An sinh sống từ đó cho đến nay. Dù gia đình hai bên đã nỗ lự khuyên nhủ nhưng càng ngày tình cảm vợ chồng càng phai nhạt dần. Hai vợ chồng mỗi người một nơi, tình cảm vợ chồng không còn nữa.

Nay nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, vợ chồng không không còn tình cảm với nhau nên bà D yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Đ.

Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, bị đơn ông Đ thừa nhận mâu thuẫn vợ chồng không thể giải quyết được nên đồng ý ly hôn với bà D.

Từ những tài liệu, chứng cứ nêu trên cho thấy mâu thuẫn giữa bà D và ông Đ là có thật, theo chiều hướng kéo dài và trầm trọng, ông bà đã thực sự không còn tình cảm với nhau, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà D đối với ông Đ.

Về nuôi con chung: Bà D và ông Đ có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Thiện N, sinh ngày 17/5/2011. Bà D yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung và không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy cháu N còn nhỏ và đang được mẹ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Để tránh xáo trộn trong sinh hoạt, tâm lý, học tập của cháu. Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của bà D giao con chung cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng. Bà D không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Bà D không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà D là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị D ly hôn ông Nguyễn Ngọc Đ.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung tên Nguyễn Ngọc Thiện N, sinh ngày 17/5/2011 cho bà Nguyễn Thị D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Bà D không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét.

Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ đối với con chung. Người không trực tiếp nuôi dưỡng con có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không được ai cản trở.

Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu của cha hoặc mẹ hoặc của cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về chia tài sản chung, nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Bà D phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí sơ thẩm bà D đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001876 ngày 05 tháng 7 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Bà D đã nộp đủ án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ