vanban.org

Bản án 88/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Kha Thị K.

Về hôn nhân: Cho chị Kha Thị K được ly hôn với anh Ngân Văn S. Về con chung: Giao con chung là cháu Ngân Minh T, sinh ngày 18/11/2018 cho chị Kha Thị K trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh S do chị Kha Thị K không yêu cầu. Anh Ngân Văn S có quyền, nghĩa vụ chăm sóc, thă… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp HNGĐ giữa chị Kha Thị K và anh Ngân Văn S"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Kha Thị K.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KỲ SƠN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2023/HNGĐ-ST
Ngày 27 tháng 9 năm 2023
V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:

Bà Vi Thị Khuyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Vi Thị Khiểu;

2. Ông Trần Thanh Vân.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kỳ Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 56/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2023 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2023/QĐST-DS ngày 29/8/2023:

- Nguyên đơn: Chị Kha Thị K, sinh năm 1997.

Nơi cư trú: Bản N, xã N, huyện K, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Ngân Văn S, sinh năm 1990.

Nơi cư trú: Bản N, xã N, huyện K, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại phiên tòa nguyên đơn chị Kha Thị K vắng mặt, tuy nhiên theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị K trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Ngân Văn S kết hôn vào năm 2018, tiến hành đăng ký kết hôn ngày 12/7/2018 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện K, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân là hoàn toàn tự nguyện, không có sự ép buộc, không vi phạm về thủ tục và điều kiện kết hôn. Thời gian đầu khi mới lấy nhau vợ chồng chung sống hạnh phúc, về sau phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là vợ chồng không có tiếng nói chung, không thể hòa hợp, anh S không quan tâm chăm sóc gia đình. Chị và anh Ngân Văn S đã ly thân từ tháng 01 năm 2021 đến nay. Hiện chị Kha Thị K không còn tình cảm nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Ngân Văn S.

Về con chung: Chị K và anh S có 01 con chung là cháu Ngân Minh T, sinh ngày 18/11/2018. Nay ly hôn chị K có nguyện vọng nuôi dưỡng và chăm sóc cháu Ngân Minh T cho đến khi cháu đủ tuổi trường thành. Về cấp dưỡng con chung: Chị K không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và các khoản nợ chung: Chị Kha Thị K không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa: Sau khi thụ lý đơn khởi kiện, thông báo thụ lý vụ án, qua xác minh anh Ngân Văn S thường xuyên vắng mặt tại địa phương, hiện đang đi làm ăn xa, nhưng vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình, anh Ngân Văn S cũng không khai báo với chính quyền địa phương về việc thay đổi nơi cư trú. Tòa án đã tiến hành thông báo và giao nhận các tài liệu chứng cứ cho anh Ngân Văn S thông qua bố ruột của anh Ngân Văn S là ông Ngân Phò S, sinh năm 1966, cùng trú tại bản N, huyện K, tỉnh Nghệ An. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn anh Ngân Văn S vẫn vắng mặt, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng theo đúng quy định tại Điều 204, 207, 208 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý đúng thẩm quyền, xác định quan hệ tranh chấp; Trong quá trình điều tra thu thập chứng cứ Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc thu thập chứng cứ, tống đạt đảm bảo quyền của đương sự. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự từ Điều 239 đến Điều 260 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của Thư ký phiên tòa được thực hiện đúng quy định tại Điều 51 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của đương sự: Bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử: Về hôn nhân: Cho chị Kha Thị K và anh Ngân Văn S được ly hôn; về con chung: Giao con chung là cháu Ngân Minh T, sinh ngày 18/11/2018 cho chị Kha Thị K trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh S; về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn chị Kha Thị K không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét; về án phí: Nguyên đơn chị Kha Thị K phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Kha Thị K yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Ngân Văn S có địa chỉ cư trú tại xã N, huyện K, tỉnh Nghệ An. Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ kiện Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành tốt các quyết định của Tòa án. Bị đơn thường xuyên vắng mặt tại địa phương, không chấp hành các quyết định của Tòa án, gây khó khăn cho công tác điều tra, thu thập chứng cứ. Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử và tống đạt cho đương sự hợp lệ nhiều lần nhưng tại phiên tòa hôm nay bị đơn vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Kha Thị K và anh Ngân Văn S tự nguyện kết hôn sau một thời gian tìm hiểu, kết hôn đúng điều kiện, nơi đăng ký kết hôn là tại UBND xã N, huyện K, tỉnh Nghệ An nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc. Thời gian sau thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không có tiếng nói chung, không thể hòa hợp, anh S không quan tâm chăm sóc gia đình. Chị Kha Thị K và anh Ngân Văn S đã ly thân từ tháng 01 năm 2021 đến nay. Xét thấy, hôn nhân của chị Kha Thị K và anh Ngân Văn S đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cho chị Kha Thị K được ly hôn với anh Ngân Văn S.

Tại biên bản xác minh tại UBND xã Nậm Cắn thể hiện: “Thời gian đầu chị K và anh S chung sống hạnh phúc, về sau phát sinh mâu thuẫn. Hôn nhân đã rơi vào bế tắc, anh S và chị K đã sống ly thân được một thời gian. Hiện nay anh S đã bỏ đi làm ăn xa, vợ chồng không còn liên lạc gì với nhau nữa.”

Về con chung: Chị Kha Thị K và anh Ngân Văn S có 01 con chung là cháu Ngân Minh T, sinh ngày 18/11/2018. Trường hợp ly hôn chị K đề nghị nuôi dưỡng chăm sóc cháu Ngân Minh T cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chị K không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, hiện nay anh S thường xuyên vắng mặt tại địa phương, đi đâu và làm gì không ai biết, nên việc giao con chung cho anh S nuôi dưỡng, chăm sóc là không đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con. Vì vậy, cần giao con chung là cháu Ngân Minh T, sinh ngày 18/11/2018 cho chị Kha Thị K được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) là phù hợp, đúng quy định, đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con.

Đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Do chị Kha Thị K không yêu cầu nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng đối với anh Ngân Văn S. Trường hợp chị K nuôi con không đảm bảo quyền, lợi ích của con mà anh S có căn cứ chứng minh thì có quyền làm đơn thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Trường hợp anh S lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị K có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh S.

Về tài sản chung và các khoản nợ chung: Nguyên đơn chị Kha Thị K không yêu cầu Hội đồng xét xử không xem xét.

Các đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Về án phí: Nguyên đơn chị Kha Thị K phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Kha Thị K.

1. Về hôn nhân: Cho chị Kha Thị K được ly hôn với anh Ngân Văn S.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Ngân Minh T, sinh ngày 18/11/2018 cho chị Kha Thị K trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh S do chị Kha Thị K không yêu cầu. Anh Ngân Văn S có quyền, nghĩa vụ chăm sóc, thăm nom con chung không ai được cản trở. Trường hợp chị K là người trực tiếp nuôi con chung không đảm bảo quyền, lợi ích của con mà anh S có căn cứ chứng minh thì anh S có quyền yêu cầu Tòa án xem xét, thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Trường hợp anh S lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị K có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh S.

3. Về án phí: Chị Kha Thị K phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) đã nộp tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án theo biên lai thu số 0004342 ngày 16/5/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.

Cỡ chữ