- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, Tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự Tòa án
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 88/2023/HNGĐ-ST Ngày: 07/8/2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,
TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Võ Văn.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Đặng Văn Minh;
2/ Bà Cao Thị Kim Yến.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Văn Đạc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Ngày 07 tháng 8 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 275/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2023, về việc “Ly hôn, Tranh chấp về nuôi con”; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/7/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 63/2023/QĐST-HNGĐ ngày 28/7/2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị Mỹ N – Sinh năm 1995 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Ông Phạm Ngọc S – Sinh năm 1990 (vắng mặt, không có lý do).
Cùng địa chỉ: Thôn UChiếm, xã HThắng, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 20/6/2023, bản khai của nguyên đơn bà Lê Thị Mỹ N khai:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Phạm Ngọc S cưới nhau vào khoảng năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Hàm Thắng theo Giấy chứng nhận kết hôn số 88/2013 ngày 24/6/2013. Việc cưới nhau là do hai bên tự tìm hiểu trong thời gian khoảng 01 năm. Sau khi cưới vợ chồng bà sống ở thôn Ung Chiếm, xã Hàm Thắng. Vợ chồng sống hạnh phúc từ khi cưới đến khoảng năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do trong cuộc sống vợ chồng không hòa hợp, không cùng quan điểm sống, ông Sanh thường xuyên nhậu nhẹt, không quan tâm gì đến vợ con, đánh đập vợ con. Vợ chồng bà vẫn còn chung sống với nhau nhưng không còn quan hệ tình cảm từ khoảng đầu năm 2023 cho đến nay. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa và nguyện vọng của bà là yêu cầu được ly hôn với ông Phạm Ngọc S.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Phạm Gia Kh – Sinh ngày 07/9/2012 và Phạm Duy K – Sinh ngày 14/12/2018. Hiện nay các con chung đang ở với ông, bà. Khi ly hôn bà yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung tên Phạm Gia Kh – Sinh ngày 07/9/2012 và Phạm Duy K – Sinh ngày 14/12/2018. Bà không yêu cầu cấp dưỡng nuôi 02 con chung.
Về tài sản và nợ: Không yêu cầu Tòa giải quyết.
Bị đơn ông Phạm Ngọc S khai: Qua lời trình bày của bà Lê Thị Mỹ N thì ông xác định là đúng. Vợ chồng cưới nhau vào khoảng năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Hàm Thắng theo Giấy chứng nhận kết hôn số 88/2013 ngày 24/6/2013. Việc cưới nhau là do hai bên tự tìm hiểu trong thời gian khoảng 01 năm. Vợ chồng sống hạnh phúc từ khi cưới đến khoảng năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông có những lời lẽ không hay với vợ ông. Vợ chồng ông vẫn còn chung sống với nhau nhưng không còn quan hệ tình cảm từ khoảng đầu năm 2023 cho đến nay. Nay ông xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn và ông yêu cầu được đoàn tụ để ông sửa sai để lo cho gia đình, sẽ không tái phạm nữa
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Phạm Gia Kh – Sinh ngày 07/9/2012 và Phạm Duy K – Sinh ngày 14/12/2018. Hiện nay các con chung đang ở với ông, bà. Ông yêu cầu đoàn tụ nên không yêu cầu giải quyết về con chung.
Về tài sản và nợ: Không yêu cầu Tòa giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, giải quyết về con chung với bị đơn. Đây là tranh chấp về ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Bị đơn có địa chỉ tại thôn Ung Chiếm, xã Hàm Thắng, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn bà Lê Thị Mỹ N vắng mặt tại phiên tòa, đã có Đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt đề ngày 07/7/2023. Căn cứ khoản 1 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Bị đơn ông Phạm Ngọc S đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Mỹ N và ông Phạm Ngọc S tổ chức lễ cưới vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Hàm Thắng theo Giấy chứng nhận kết hôn số 88/2013 ngày 24/6/2013. Đây là hôn nhân hợp pháp, phù hợp với quy định tại các Điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình.
Vợ chồng bà Lê Thị Mỹ N và ông Phạm Ngọc S sống hạnh phúc từ khi cưới đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn và nguyên nhân mâu thuẫn là do trong cuộc sống vợ chồng không hòa hợp, không cùng quan điểm sống, ông Phạm Ngọc S không quan tâm gì đến vợ con. Vợ chồng bà Lê Thị Mỹ N, ông Phạm Ngọc S vẫn còn chung sống với nhau nhưng không còn quan hệ tình cảm từ khoảng đầu năm 2023 cho đến nay. Nay bà Lê Thị Mỹ N xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa và bà yêu cầu xin được ly hôn với ông Phạm Ngọc S.
Sau khi nhận Thông báo thụ lý vụ án, làm bản khai với yêu cầu đoàn tụ cho đến khi Tòa án mở phiên tòa, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông Phạm Ngọc S nhưng ông Phạm Ngọc S cố tình lẫn tránh, vắng mặt không có lý do. Việc đó thể hiện ý thức xem thường pháp luật, không thiết tha gì đến hạnh phúc và hôn nhân của mình.
Tòa án đã tạo điều kiện để bà Ngọc, ông Sanh có thời gian đoàn tụ nhưng hai bên không còn quan tâm, không có động thái nhằm hàn gắn tình cảm với nhau nữa, khả năng hàn gắn để đoàn tụ là không thể. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà Ngọc vẫn giữ nguyên yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn với ông Sanh.
Do đó, Hội đồng xét xử nhận định quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Thị Mỹ N và ông Phạm Ngọc S thực tế đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, yêu cầu được ly hôn của bà Lê Thị Mỹ N là có căn cứ nên chấp nhận.
- Về con chung: Bà Lê Thị Mỹ N và ông Phạm Ngọc S có 02 con chung tên Phạm Gia Kh – Sinh ngày 07/9/2012 và Phạm Duy K – Sinh ngày 14/12/2018. Hiện nay các con đang ở với ông Sanh, bà Ngọc.
Tại đơn khởi kiện cũng như tại bản khai, bà Lê Thị Mỹ N yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi dưỡng các con Phạm Gia Kh – Sinh ngày 07/9/2012 và Phạm Duy K – Sinh ngày 14/12/2018, không yêu cầu ông Phạm Ngọc S cấp dưỡng nuôi con.
Xét yêu cầu nuôi con của bà Lê Thị Mỹ N, Hội đồng xét xử thấy rằng: Con tên Phạm Gia Kh và Phạm Duy K từ khi sinh ra cho đến nay đều do bà Lê Thị Mỹ N chăm sóc, giáo dục và con tên Phạm Gia Kh có nguyện vọng ở với bà Lê Thị Mỹ N. Vì vậy, giao các con chung tên Phạm Gia Kh và Phạm Duy K cho bà Lê Thị Mỹ N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bà Lê Thị Mỹ N phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.
Ông Phạm Ngọc S không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Khoản 1 Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Lê Thị Mỹ N về việc yêu cầu ly hôn với ông Phạm Ngọc S.
Bà Lê Thị Mỹ N được ly hôn với ông Phạm Ngọc S.
2. Về con chung:
Bà Lê Thị Mỹ N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Phạm Gia Kh – Sinh ngày 07/9/2012 và Phạm Duy K – Sinh ngày 14/12/2018.
Bà Lê Thị Mỹ N không yêu cầu ông Phạm Ngọc S cấp dưỡng nuôi con.
Ông Phạm Ngọc S có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí:
Bà Lê Thị Mỹ N phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Bà Lê Thị Mỹ N đã nộp đủ 300.000đồng tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0019544 ngày 05/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nên không nộp nữa.
Ông Phạm Ngọc S không chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Thuận; - VKSND huyện Hàm Thuận Bắc; - Chi cục THADS huyện Hàm Thuận Bắc; - UBND nơi đăng ký kết hôn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Võ Văn THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Võ Văn |