- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn H và L"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị Thanh H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH Bản án số: 88/2023/HNGĐ-ST Ngày 21/8/2023. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| “V/v Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lý Thanh Lâm.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Thanh Chúc.
Ông Nguyễn Tấn Sĩ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Đầy, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tấn An – Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 314/2023/TLST-HNGĐ, ngày 30/6/2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 150/2023/QĐXXST-HN, ngày 07/8/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thanh H, sinh năm 1981. Địa chỉ: Khóm I, thị trấn M, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Có mặt.
Bị đơn: Anh Huỳnh Chí L, sinh năm 1981. Nơi cư trú: Khóm M, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Nơi tạm trú: Khóm I, thị trấn M, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử nguyên đơn chị Lê Thị Thanh H trình bày:
- Về hôn nhân: Chị và anh L xác lập hôn vào năm 2006, đến ngày 22/10/2015 có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn M, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Khi tiến đến hôn nhân, chị và anh L có quen biết nhau khoảng 06 tháng rồi đồng ý tiến hành lễ cưới theo phong tục tập quán, nữ trang ngày cưới đã bán hết không còn.
Quá trình chung sống với nhau phát sinh nhiều mâu thuẫn về lối sống, ứng xử giao tiếp và tình cảm, trong cuộc sống hàng ngày vợ chồng không có thảo luận trao đổi bàn bạc gì với nhau, ý kiến luôn bất hòa, anh không tôn trọng nhau, thậm chí vợ chồng sống chung nhưng ít chia sẽ công việc, ít nói chuyện với nhau, anh đi làm về khuya, chị quan tâm hỏi đến thì anh bỏ mặt, không trả lời đồng thời có những lời nói không chuẩn mực xúc phạm nhau… sự việc xảy ra trong thời gian dài nhưng anh L không khắc phục, đến năm 2018 vợ chồng sống ly thân đến nay hơn 05 năm nên tình cảm không còn. Nay chị yêu cầu giải quyết cho chị được ly hôn với anh L.
- Về con chung: Chị và anh Huỳnh Chí L chung sống không có sinh con.
- Về tài sản chung vợ chồng và số nợ phải thu, phải trả: Chị không tranh chấp, không khởi kiện.
Ngoài ra chị không có yêu cầu gì khác.
Tại phiên tòa lần thứ nhất, anh Huỳnh Chí L vắng mặt và có làm đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên không có lời trình bày.
Lời phát biểu của Kiểm sát viên.
- Về việc tuân theo pháp luật: Thủ tục thụ lý hồ sơ vụ án, xác định quan hệ pháp luật, xác định người tham gia tố tụng, thành phần tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thành phần Hội đồng xét xử đều đúng quy định pháp luật. Các văn bản tố tụng từ khi nhận đơn khởi kiện đến khi Quyết định đưa vụ án ra xét xử đều tống đạt đầy đủ. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị H, xử cho chị H được ly hôn với anh L; về con chung không có; về tài sản chung vợ chồng và số nợ phải thu, phải trả do các đương sự không tranh chấp, không khởi kiện nên không xem xét giải quyết. Buộc chị H nộp án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
[1]. Về thủ tục tố tụng: Xét thấy anh Huỳnh Chí L là bị đơn trong vụ án, tại phiên tòa lần thứ nhất, anh L vắng mặt và có làm đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Xét thấy chị H khởi kiện anh L yêu cầu giải quyết cho chị được ly hôn với anh L, ngoài ra không yêu cầu gì khác. Căn cứ khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ pháp luật giải quyết là “Tranh chấp ly hôn”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn:
- Về hôn nhân: Xét thấy chị H và anh L xác lập hôn nhân vào năm 2006, đến ngày 22/10/2015 có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn M, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Từ đó xác định đây là hôn nhân hợp pháp. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng:
Chị H khai: Quá trình chung sống với nhau phát sinh nhiều mâu thuẫn về lối sống, ứng xử giao tiếp và tình cảm, trong cuộc sống hàng ngày vợ chồng không có thảo luận trao đổi bàn bạc gì với nhau, ý kiến luôn bất hòa, anh không tôn trọng nhau, thậm chí vợ chồng sống chung nhưng ít chia sẽ công việc, ít nói chuyện với nhau, anh đi làm về khuya, chị quan tâm hỏi đến thì anh bỏ mặt, không trả lời đồng thời có những lời nói không chuẩn mực xúc phạm nhau… sự việc xảy ra trong thời gian dài nhưng anh L không khắc phục, đến năm 2018 vợ chồng sống ly thân đến nay hơn 05 năm nên tình cảm không còn. Nay chị yêu cầu giải quyết cho chị được ly hôn với anh L.
Đối với anh L: Tòa án giao Thông báo thụ lý vụ án và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho anh L nhận để anh tham gia tố tụng thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật, tuy nhiên tại các phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải anh L đều vắng mặt không có lý do nên phiên hòa giải đoàn tụ không tiến hành được, hôm nay tại phiên tòa lần nhất anh L tiếp tục vắng mặt, từ đó cho thấy khả năng hàn gắn đoàn tụ vợ chồng là không có kết quả.
Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh L xảy ra từ năm 2018 cho đến nay, anh chị đều bỏ mặt, mạnh ai nấy sống, không quan tâm đến tình nghĩa vợ chồng, đã ly thân nhau hơn 05 năm, tại phiên tòa chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn và cương quyết xin ly hôn không chung sống với anh L, tại bản tự khai đề ngày 05/7/2023 anh L cũng đồng ý ly hôn với chị H, từ đó làm cho mâu thuẫn tình cảm vợ chồng ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị H, xử cho chị H được ly hôn với anh L là đúng quy định pháp luật.
- Về nuôi con: Chị H và anh L chung sống không có sinh con.
- Về tài sản chung vợ chồng và số nợ phải thu, phải trả: Do các đương sự không tranh chấp, không khởi kiện. Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc chị Lê Thị Thanh H có nghĩa vụ nộp theo quy định pháp luật.
. Xét lời của Kiểm sát viên trình bày về trình tự thủ tục tố tụng và hướng giải quyết vụ án nêu trên là phù hợp với quy định pháp luật và được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, các Điều 147, 228, 235, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 53, 54, 56 và Điều 57 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị Thanh H.
- Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị Thanh H được ly hôn với anh Huỳnh Chí L.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc chị Lê Thị Thanh H nộp 300.000 đồng nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà chị H đã nộp theo biên lai thu tiền số 0017433, ngày 23/6/2023 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Ngang thu. Chị Lê Thị Thanh H đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo:
+ Chị Lê Thị Thanh H có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
+ Anh Huỳnh Chí L vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Trà Vinh; - VKSND huyện, tỉnh; - Chi Cục THADS huyện; - UBND thị trấn Mỹ Long, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh. - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lý Thanh Lâm |