vanban.org

Bản án 88/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Huỳnh Thị Phương T ly hôn với anh Phan Văn L. Quan hệ hôn nhân theo giấy chứng nhận kết hôn số 135/2018 ngày 30/5/2018 của Ủy ban nhân dân xã A (nay là thị trấn T), huyện B, tỉnh B chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Về con chung: Chị Huỳnh Thị Phương T có quyền trực tiếp nuôi con chung Phan Huỳnh Minh Đ, sinh ngày 14/9/2018. Ghi nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Huỳnh Thị Phương T ly hôn với anh Phan Văn L. Quan hệ hôn nhân theo giấy chứng nhận kết hôn số 135/2018 ngày 30/5/2018 của Ủy ban nhân dân xã A (nay là thị trấn T), huyện B, tỉnh B chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2023/HNGĐ - ST
Ngày: 26 - 6 - 2023
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Lâm

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Tiến

2. Bà Hà Thị Dung

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Vân – Thư ký Toà án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Hiển – Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ba Tri xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 221/2023/TLST - HNGĐ ngày 17/5/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2023/QĐST - HNGĐ ngày 16/6/2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Phương T, sinh năm 1995 (vắng mặt – có đơn)

Địa chỉ: khu phố A, thị trấn T, huyện B, tỉnh B.

Bị đơn: Anh Phan Văn L, sinh năm 1994 (vắng mặt – có đơn)

Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện B, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Huỳnh Thị Phương T trình bày:

Chị và anh Phan Văn L cưới nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A (nay là thị trấn T), huyện B, tỉnh B ngày 30/10/2018. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do anh L tính còn ham chơi, không lo làm ăn để lo cho gia đình, thường xuyên tụ tập bạn bè nhậu nhẹt, ngoài ra giữa chị và anh L cũng thường bất đồng quan điểm sống dẫn đến cuộc sống hôn nhân của chị và anh L không có hạnh phúc nên vợ chồng đã sống ly thân cách nay khoảng 04 năm nhưng không hàn gắn được. Hiện chị không còn tình cảm vợ chồng với anh L, không muốn tiếp tục cuộc sống hôn nhân với anh L nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L.

Về con chung: Trong thời gian chung sống chị và anh L có một con chung là cháu Phan Huỳnh Minh Đ, sinh ngày 14/9/2018, khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung, chị tự nguyện không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Tại đơn yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt anh Phan Văn L trình bày:

Anh và chị Huỳnh Thị Phương T sống không hợp nhau nên đã ly thân cách nay khoảng 04 năm, hai bên đều không muốn hàn gắn với nhau, nay chị T yêu cầu ly hôn thì anh cũng đồng ý ly hôn với chị T.

Trong thời gian chung sống anh và chị T có một con chung là cháu Phan Huỳnh Minh Đ, sinh ngày 14/9/2018, con chung hiện do chị T nuôi dưỡng, khi ly hôn anh đồng ý để chị T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung, anh không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Quan điểm của Viện kiểm sát:

- Về thủ tục: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS). Hội đồng xét xử và Thư ký tại phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Việc nguyên đơn, bị đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và phiên toà xét xử vắng mặt đương sự là đúng theo quy định tại Điều 228 BLTTDS. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71, 72 BLTTDS.

- Về nội dung: Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị HĐXX:

+ Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Huỳnh Thị Phương T được ly hôn với anh Phan Văn L.

+ Về con chung: Giao con chung Phan Huỳnh Minh Đ, sinh ngày 14/9/2018 cho chị T tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát. Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

Về thủ tục: Nguyên đơn chị Huỳnh Thị Phương T và bị đơn Phan Văn L có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị T và anh L.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Chị T và anh L cưới nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân xã A (nay là thị trấn T), huyện B, tỉnh B ngày 30/10/2018 nên là hôn nhân hợp pháp. Do đó, hôn nhân của chị T và anh L là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Quá trình giải quyết vụ án, chị T cho rằng hôn nhân của chị và anh L không có hạnh phúc nên vợ chồng đã sống ly thân cách nay khoảng 04 năm, đôi bên đều không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng với nhau, chị T yêu cầu ly hôn thì anh L cũng đồng ý ly hôn với chị T, qua đó cho thấy tình cảm vợ chồng đã rạn nứt, mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu ly hôn của chị Hân là có căn cứ phù hợp với quy định khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được HĐXX chấp nhận.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, chị T và anh L có một con chung là cháu Phan Huỳnh Minh Đ, sinh ngày 14/9/2018. Hiện con chung đang sống cùng chị T. Xét yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng con chung của chị T là có cơ sở, đảm bảo được sự ổn định cho cuộc sống, việc học hành cũng như tâm sinh lý của con chung. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận giao con chung cháu Minh Trí cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không ai yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) chị Huỳnh Thị Phương T phải nộp theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Huỳnh Thị Phương T ly hôn với anh Phan Văn L. Quan hệ hôn nhân theo giấy chứng nhận kết hôn số 135/2018 ngày 30/5/2018 của Ủy ban nhân dân xã A (nay là thị trấn T), huyện B, tỉnh B chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Chị Huỳnh Thị Phương T có quyền trực tiếp nuôi con chung Phan Huỳnh Minh Đ, sinh ngày 14/9/2018. Ghi nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên đương sự có quyền yêu cầu Tòa án xem xét thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Tài sản chung, nợ chung: Không ai yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

4. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) chị Huỳnh Thị Phương T phải nộp và được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0004230 ngày 10/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị T đã nộp xong.

Chị Huỳnh Thị Phương T, anh Phan Văn L vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ