- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phùng Quang Hưng - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Áp dụng Điểm (b) Khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điểm h, s Khoản 1 Điều 51-BLHS - tuyên bố Phùng Quang H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt Phùng Quang H 09 (Chín) tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật TTHS; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 88/2022/HSST Ngày: 08/9/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH HÒA BÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Lan Hương Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Nga, bà Ngô Thị Như Hoa Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Việt Dũng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố H. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Hòa - Kiểm sát viên. Ngày 08/9/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân (TAND) thành phố H, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2022/HSST ngày 14/7/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2022/QĐXXST-HS ngày 08/8/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2022/HSST-QĐ ngày 19/8/2022 của TAND thành phố H đối với bị cáo: Phùng Quang H, sinh năm 1989, tại H. HKTT: Tổ 02, Phường T, Thành phố H, Tỉnh Hòa Bình. Nơi cư trú: Tổ 14, Phường Th, Thành phố H, Tỉnh Hòa Bình. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính nam; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Phùng Văn Đ, sinh năm 1949 (đã chết); Con bà Nguyễn Thị Ch, sinh năm 1949; Có vợ là Trần Thị Hồng Nh, sinh năm 1990 (đã ly hôn); Có con là Phùng Trần Hoàng A, sinh năm 2010; Gia đình có bốn anh em, bị cáo là con thứ tư. Tiền sự: Không Tiền án: Bị cáo có 02 tiền án
- Năm 2018 bị TAND thành phố H xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 19/2018/HSST ngày 20/4/2018.
- Năm 2020 bị TAND thành phố H xử phạt 14 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 72/2020/HSST ngày 06/8/2020 Chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/6/2021. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày: 21/4/2022, tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hòa Bình (được trích xuất có mặt tại phiên tòa). */ Người bị hại: Công ty cổ phần đầu tư năng lượng xây dựng thương mại H. Địa chỉ: Tổ 1, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Trường Y, sinh năm 1984 Nơi cư trú: Tổ 7, phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 16/12/2021, Phùng Quang H đi bộ trên đường đê Đ thuộc phường Đ, Thành phố H, Tỉnh Hòa Bình thì nhặt được 01 chiếc kìm và 01 chiếc cờ-lê trên đường đi. H bỏ vào túi quần với mục đích khi nào cần sẽ dùng đến. Sau đó, H đi bộ tới khu vực Quảng trường H, thuộc Tổ 7, Phường Q, Thành phố H chơi. Tại đây, H quan sát thấy ở khu đất trống của Công ty cổ phần thương mại H tháo dỡ còn lại hàng rào sắt không có ai trông giữ. H dùng tay lay, nhổ và bẻ gãy các thanh sắt hàng rào, lấy được 06 (sáu) thanh sắt hình hộp và 02 (hai) thanh sắt hình chữ “V”. Khi H đang vác các thanh sắt đi tiêu thụ thì bị quần chúng nhân dân và Công an phường Q phát hiện, thu giữ toàn bộ các thanh sắt mà H vừa trộm cắp được. Vật chứng thu giữ của vụ án gồm:
- 06 (sáu) thanh sắt hình hộp chữ nhật và 02 (hai) thanh sắt hình chữ “V”.
- 01 chiếc kìm bằng kim loại (đã qua sử dụng).
- 01 chiếc cờ lê bằng kim loại (đã qua sử dụng). Tại bản kết luận định giá tài sản số 309/KLHĐ-ĐGTS ngày 28/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Thành phố H kết luận:
- 01 (một) thanh sắt hộp dài 1,63m, rộng 0,04m, dày 0,02m.
- 01 (một) thanh sắt hộp dài 1,25m, rộng 0,04m, dày 0,02m.
- 01 (một) thanh sắt hộp dài 2,03m, rộng 0,04m, dày 0,02m.
- 01 (một) thanh sắt hộp dài 2,58m, rộng 0,04m, dày 0,02m.
- 01 (một) thanh sắt hộp dài 3,50m, rộng 0,04m, dày 0,02m.
- 01 (một) thanh sắt hộp dài 3,40m, rộng 0,04m, dày 0,02m.
- 01 (một) thanh sắt chữ V dài 2,27m, rộng 0,07m.
- 01 (một) thanh sắt chữ V dài 2,30m, rộng 0,07m Tổng khối lượng của 08 thanh sắt trên là 17,5kg. Tổng giá trị tài sản là 175.000 đồng (Một trăm bảy mười lăm nghìn đồng). Toàn bộ vật chứng là các thanh sắt, bị cáo Phùng Quang H trộm cắp đã được Cơ quan cảnh sát điều tra (CSĐT) trả lại cho ông Nguyễn Trường Y - đại diện theo ủy quyền của chủ sở hữu hợp pháp là Công ty cổ phần đầu tư năng lượng xây dựng thương mại H theo quyết định xử lý vật chứng số 30/QĐ-CSĐT ngày 06/6/2022. Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) thành phố H giữ nguyên Cáo trạng số 70/CT-VKS ngày 13/7/2022, truy tố Phùng Quang H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi 2017 (BLHS). Đề nghị HĐXX áp dụng thêm Điều 38, Điểm h, s Khoản 1 Điều 51 - BLHS xử phạt bị cáo Phùng Quang H từ 9->12 tháng tù. Đồng thời có ý kiến: + Về trách nhiệm dân sự: ông Nguyễn Trường Y – đại diện theo ủy quyền của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường do vậy không đề cập giải quyết. + Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Tiến hành tịch thu tiêu hủy đối với:
- 01 chiếc kìm bằng kim loại, đã qua sử dụng;
- 01 chiếc cờ lê bằng kim loại, đã qua sử dụng; Bởi giá trị tài sản không lớn. Về án phí: đề nghị HĐXX tuyên bị cáo Phùng Quang H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. * Ý kiến tranh luận của bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo Phùng Quang H không có ý kiến tranh luận gì. * Lời nói sau cùng: Bị cáo H đã nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, bị cáo ở với mẹ đã cao tuổi nên mong được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan CSĐT Công an Thành phố H, Điều tra viên, VKSND Thành phố H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật TTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về nội dung này nên các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là phù hợp với quy định pháp luật. [2] Về tội danh và hình phạt: Phùng Quang H là người có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản là trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Mặc dù giá trị tài sản nhỏ (dưới 2.000.000đ nhưng bị cáo đã có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”; thời điểm gần nhất chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/6/2021 (Chưa được xóa án tích mà còn vi phạm). Hành vi của bị cáo trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của cơ quan, tổ chức đựơc pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Xét hành vi khách quan mà bị cáo đã thực hiện; lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án; HĐXX thấy có đủ cơ sở kết luận: hành vi của Phùng Quang H đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 173 - việc truy tố của VKSND Thành phố H như vậy là có căn cứ pháp luật. Cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn theo quy định Điều 38 – BLHS, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Khi quyết định mức hình phạt, HĐXX cân nhắc, xem xét: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (TNHS): bị cáo H không có tình tiết tăng nặng TNHS theo quy định tại Điều 52 - BLHS. Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thiệt hại xảy ra không lớn (là 02 tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 – BLHS) như đánh giá, đề nghị của đại diện VKSND là phù hợp nên cần giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. [3]. Về trách nhiệm dân sự: ông Nguyễn Trường Y - đại diện theo ủy quyền của bị hại xác nhận đã nhận lại tài sản bị trộm cắp, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm (phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 48 – BLHS). Do vậy, HĐXX ghi nhận sự tự nguyện này. [4]. Về xử lý vật chứng: cần căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật TTHS; Tiến hành tịch thu tiêu hủy đối với:
- 01 chiếc kìm bằng kim loại, đã qua sử dụng;
- 01 chiếc cờ lê bằng kim loại, đã qua sử dụng. Các vật chứng đã xử lý trả lại cho bên bị hại Công ty cổ phần đầu tư năng lượng xây dựng thương mại H là phù hợp. [5]. Về án phí: bị cáo Phùng Quang H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Khoản 2 Điều 135 của Bộ luật TTHS; Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Cần tuyên quyền kháng cáo theo quy định Điều 331 - Bộ luật TTHS. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt: Áp dụng Điểm (b) Khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điểm h, s Khoản 1 Điều 51-BLHS - tuyên bố Phùng Quang H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt Phùng Quang H 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 21/4/2022. 2. Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Khoản 1 Điều 48 - BLHS; ghi nhận Công ty cổ phần đầu tư năng lượng xây dựng thương mại H đã nhận lại tài sản 06 (sáu) thanh sắt hình hộp và 02 (hai) thanh sắt hình chữ “V” và không có yêu cầu bồi thường. 3. Về vật chứng: Áp dụng Điểm c Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật TTHS; * Tiến hành tịch thu tiêu hủy đối với:
- 01 chiếc kìm bằng kim loại, đã qua sử dụng;
- 01 chiếc cờ lê bằng kim loại, đã qua sử dụng. Vật chứng được thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng số 74/BB ngày 20/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H. 4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Phùng Quang H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo để xét xử theo trình tự phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền kháng cáo vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Hoà Bình; -VKSND Tp H - VKSND tỉnh Hòa Bình; - Sở tư pháp tỉnh Hòa Bình; - Chi cục THADS Tp H; - Công an Tp H; - Trại giam CA Tỉnh HB; - Bị cáo; Bị hại - UBND Phường Th, Tp H - UBND Phường T, Tp - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (ĐÃ KÝ) Đinh Lan Hương |