- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Đình K - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Giao bị cáo Phạm Đình K cho Uỷ ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh T giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 88/2022/HS-ST Ngày 06-9-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Huyền
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Mão
Ông Vũ Văn Khang
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Đoàn Đình Hưởng - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 90/2022/TLST- HS ngày 15 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2022/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
Phạm Đình K, sinh ngày 14 tháng 6 năm 199X tại Thái Bình. Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh T; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn L và bà Đỗ Thị T; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị áp dụng biên pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/6/2022; có mặt.
- Bị hại:
+ Chị Phạm Thanh X, sinh năm 198Y; trú tại: Số 11 tầng 3 Cầu thang 2, lô A8, phường V, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
+ Anh Vũ Minh Đ, sinh năm 198P; trú tại: Số 11 tầng 3 Cầu thang 2, lô A8, phường V, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Người làm chứng:
+ Chị Nguyễn Thị N; vắng mặt.
+ Ông Nguyễn Mạnh H1; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Đình K thuê nhà số 15, tầng 4, cầu thang 2, lô A8, phường V, quận N, Hải Phòng để ở gần gia đình chị gái là Phạm Thanh X, sinh năm 198Y; địa chỉ: Số 11, tầng 3, cầu thang 2, lô A8, phường V, quận N, Hải Phòng. Do K thường xuyên vào nhà chị X chơi nên biết chỗ chị để chìa khóa nhà, chìa khóa tủ. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 31/5/2022, K đi qua cổng nhà chị X thấy cổng không khóa, K mở cổng vào thì thấy cửa nhà khóa, K mở cửa bếp lấy chìa khóa dự phòng rồi mở cửa vào nhà chị X, K không thấy ai ở nhà nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền chơi điện tử trên mạng internet. K mở tủ quần áo tìm lấy 02 chiếc chìa khóa két sắt ở ngăn tủ trên cùng bên trái, K dùng chìa khóa mở két sắt để trong tủ ra thấy két sắt có 02 ngăn, ngăn trên có 1 phong bì và 01 con lợn nhựa màu hồng đựng tiền tiết kiệm. K lấy phong bì xé ra lấy tiền bên trong đếm được 17.000.000 đồng rồi cất vào túi quần đang mặc, K lấy con lợn nhựa ra để dưới sàn nhà. K tiếp tục tìm kiếm ở ngăn dưới két sắt thấy 01 hộp nhựa màu cam bên trong có 03 nhẫn vàng 9999 (loại 1 chỉ/ nhẫn) nên lấy cất vào túi quần đang mặc. K mở miệng lợn nhựa ra móc lấy hết tiền bên trong ra đếm được 5.000.000 đồng rồi cất giấu vào túi quần đang mặc. K xếp đồ đạc gọn gàng, khóa két sắt lại, đóng cửa nhà và cài khóa cổng như lúc ban đầu. Sau đó, K lấy xe mô tô của mình đi đến cây ATM của Ngân hàng MB tại địa chỉ số 341 Đ, phường V, quận N, Hải Phòng nạp 17.000.000 đồng vào tài khoản số 9755614061994 của K tại Ngân hàng MB. K đến quán Internet của ông Nguyễn Mạnh H1 sinh năm 195Y, ở địa chỉ số 7/28 L, phường C, quận N, Hải Phòng chơi điện tử hết 17.000.000 đồng trong tài khoản. K mang 03 chỉ vàng đến Cửa hàng vàng Hạnh An của chị Nguyễn Thị N sinh năm 198L, ở địa chỉ số 24 Đ, phường M, quận N, Hải Phòng bán được 15.980.000 đồng, K bù thêm 20.000 đồng cho đủ 16.000.000 đồng rồi lại đến cây ATM ở số 341 Đ nạp tiền vào tài khoản, K đến quán internet trên chơi điện tử hết. K tiếp tục đến cây ATM trên nạp 5.500.000 đồng vào tài khoản (trong đó có 5.000.000 đồng lấy trong lợn nhựa của gia đình chị X) rồi chơi điện tử hết.
Đến khoảng 12 giờ ngày 02/6/2022, K thấy nhà chị X không có người trông coi nên mở cửa vào nhà chị X, K mở két sắt lục tung đồ đạc, giấy tờ trong két sắt ra ngoài sàn nhà để tạo hiện trường giả, mục đích để chị X biết có kẻ gian vào nhà chị X trộm cắp tài sản. Đến chiều cùng ngày, chị X về nhà phát hiện bị mất trộm tài sản trên, nên đến trình báo Công an phường V.
Sau khi Cơ quan điều tra đến hiện trường làm việc, Phạm Đình K sợ hãi nên đến ngày 03/6/2022, K đến Công an quận Ngô Quyền xin đầu thú và giao nộp: 01 áo phông màu trắng có chữ Faure Cia màu xanh bên ngực áo, áo cổ bẻ có tem hiệu Minh Ngọc; 01 quần thể thao màu đen có chữ adidas màu ghi tại đùi trái; 01 đôi dép xốp màu đen quai dép có chữ NIKE màu trắng là bộ trang phục K mặc khi trộm cắp tài sản, bán vàng và chơi điện tử.
Tại Cơ quan điều tra, Phạm Đình K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên và khai: K trộm cắp tiền, vàng của gia đình chị Phạm Thanh X mục đích để có tiền chơi điện tử “mario” trên mạng internet.
Vợ chồng chị Phạm Thanh X, anh Vũ Minh Đ khai: Gia đình anh, chị bị K trộm cắp 01 phong bì 17.000.000 đồng, 03 nhẫn vàng 9999 (loại 1 chỉ/ nhẫn) và 5.000.000 đồng trong con lợn nhựa để trong két sắt. Tổng tài sản gia đình chị X, anh Đ bị K chiếm đoạt tương đương với 37.980.000 đồng, đây là tài sản chung của vợ chồng anh chị. Do K là em ruột của chị X, tiền và vàng K đã chơi điện tử hết, nên chị X và anh Đ không yêu cầu K bồi thường thiệt hại. Đồng thời, anh Đ, chị X xin giảm nhẹ hình phạt cho K.
Chị Nguyễn Thị N là chủ Cửa hàng vàng Hạnh A khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 31/5/2022, chị N có mua 03 nhẫn vàng 9999 (loại 1 chỉ/ nhẫn) của Phạm Đình K, khi mua vàng chị N không biết đó là tài sản do K phạm tội mà có. Đến cuối ngày, gia đình chị N đã dùng 03 nhẫn vàng mua của K nung chảy với số vàng khác của cửa hàng để chế tác ra các sản phẩm trang sức khác, nên không còn để giao nộp cho Cơ quan điều tra. Chị N đã giao nộp cho Cơ quan điều tra đoạn video do camera của cửa hàng ghi hình ảnh K đến bán vàng tại cửa hàng của chị N.
Ông Nguyễn Mạnh H1 chủ quán internet số 7/28 Lương Khánh Thiện, phường Cầu Đất khai: Ngày 31/5/2022, Phạm Đình K có đến quán internet của ông H1 chơi điện tử, nhưng ông H1 không biết việc K trộm cắp tài sản của chị X lấy tiền chơi điện tử. Thông tin dữ liệu duyệt web của máy tính K sử dụng vào ngày 31/5/2022 thì ông H1 không quản lý. Sau mỗi ngày kinh doanh máy tính được tắt nên dữ liệu thông tin lưu trên máy đều bị xóa, không còn lưu lại trên máy tính. Ông H1 đã giao nộp cho Cơ quan điều tra đoạn video do camera của quán ghi hình ảnh K đến chơi điện tử ngày 31/5/2022 tại quán của ông H1.
Về vật chứng:
- Số tiền 22.000.000 đồng (gồm: 17.000.000 đồng trong phong bì và 5.000.000 đồng trong con lợn nhựa) bị cáo chiếm đoạt của gia đình chị X, bị cáo đã nạp vào tài khoản rồi chơi điện tử hết; còn 03 nhẫn vàng 9999 bị cáo bán cho cửa hàng vàng Hạnh An, cửa hàng đã nung chảy vàng chế tác sản phẩm khác nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.
- Chuyển theo hồ sơ vụ án: 01 đoạn video ghi hình ảnh bị cáo bán vàng và 01 video ghi hình ảnh bị cáo chơi điện tử được lưu trong 02 USB niêm phong.
- Chuyển Chi cục thi hành án dân sự quận Ngô Quyền: 01 áo phông màu trắng có chữ Faure Cia màu xanh bên ngực trái và tay áo phải, cổ bẻ có tem hiệu Minh Ngọc; 01 quần thể thao màu đen có chữ adidas màu ghi tại đùi trái; 01 đôi dép xốp màu đen quai dép có chữ NIKE màu trắng.
Về trách nhiệm dân sự: Tại giai đoạn điều tra, bị hại chị Phạm Thanh X, anh Vũ Minh Đ không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại.
Tại bản Cáo trạng số 92/CT-VKSNQ ngày 11/8/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Phạm Đình K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Phạm Đình K khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Bị hại chị Phạm Thanh X, anh Vũ Minh Đ đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa đã được chủ tọa công bố các bản khai có trong hồ sơ và đơn xin giảm nhẹ hình phạt thể hiện đến nay đã được bị cáo bồi thường đầy đủ và xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
Kiểm sát viên tại phiên toà, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Phạm Đình K mức án từ 18 đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 đến 48 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Phạm Thanh X, anh Vũ Minh Đ đã được bị cáo bồi thường đầy đủ, không có yêu cầu gì khác nên không đặt vấn đề giải quyết. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 áo phông màu trắng có chữ Faure Cia màu xanh bên ngực trái và tay áo phải, cổ bẻ có tem hiệu Minh Ngọc; 01 quần thể thao màu đen có chữ adidas màu ghi tại đùi trái; 01 đôi dép xốp màu đen quai dép có chữ NIKE màu trắng. Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
- Về tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo nhận tội như cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Việc nhận tội của bị cáo còn được chứng minh bằng các biên bản ghi lời khai của bị hại, người làm chứng và các vật chứng đã thu giữ. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 31/5/2022, Phạm Đình K đã có hành vi lợi dụng sơ hở, lén lút chiếm đoạt số tiền 22.000.000 đồng và 03 nhẫn vàng 9999 (loại 1 chỉ/ nhẫn) của vợ chồng chị Phạm Thanh X và anh Vũ Minh Đ để trong két sắt tại nhà số 11, tầng 3, cầu thang 2, lô 8A, phường V, quận N, Hải Phòng. Tổng tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại có giá trị tương đương 37.980.000 đồng. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng với quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn gây mất trật tự trị an xã hội. Việc đưa bị cáo ra xét xử trước pháp luật là cần thiết để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo đã đầu thú đối với hành vi phạm tội đồng thời bị cáo đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo chưa tiền án, tiển sự, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Vì vậy, xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự để cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội cũng đủ để giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
- Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo K thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản nhưng bị cáo không có tài sản và thu nhập nên không cần thiết bắt bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
- Về trách nhiệm dân sự:
Đối với tài sản bị mất, bị hại chị Phạm Thanh X, anh Vũ Minh Đ đã được bị cáo bồi thường đầy đủ, không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.
- Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy 01 áo phông màu trắng có chữ Faure Cia màu xanh bên ngực trái và tay áo phải, cổ bẻ có tem hiệu Minh Ngọc; 01 quần thể thao màu đen có chữ adidas màu ghi tại đùi trái; 01 đôi dép xốp màu đen quai dép có chữ NIKE màu trắng không còn giá trị và bị cáo không có yêu cầu nhận lại tài sản trên.
Trong vụ án này ngoài hành vi trộm cắp nêu trên, Phạm Đình K còn khai có hành vi chơi điện tử “mario” trên mạng internet, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không đủ căn cứ để xác định hành vi phạm tội đánh bạc của K, Cơ quan điều tra không xử lý nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.
Đối với chị Nguyễn Thị N chủ Cửa hàng vàng Hạnh A mua 03 nhẫn vàng 9999 của K, nhưng chị N không biết đó là tài sản do K phạm tội mà có; Ông Nguyễn Mạnh H1 chủ quán internet số 7/28 L không biết K thuê máy tính của ông để vào mạng internet đánh bạc, Cơ quan điều tra không xử lý đối với hành vi của chị N và ông H1 nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.
- Về án phí:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Phạm Đình K 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Trộm cắp tài sản”.
Giao bị cáo Phạm Đình K cho Uỷ ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh T giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự như sau:
Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.
Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy 01 áo phông màu trắng có chữ Faure Cia màu xanh bên ngực trái và tay áo phải, cổ bẻ có tem hiệu Minh Ngọc; 01 quần thể thao màu đen có chữ adidas màu ghi tại đùi trái; 01 đôi dép xốp màu đen quai dép có chữ NIKE màu trắng theo biên bản giao nhận chứng cứ tài sản ngày 12/8/2022 tại Chi cục Thi hành án quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Phạm Đình K phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo Phạm Đình K được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại chị Phạm Thanh X, anh Vũ Minh Đ được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
- VKSND thành phố Hải Phòng;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND quận Ngô Quyền;
- Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền;
- Cơ quan Thi hành án hình sự Công an quận Ngô Quyền;
- Chi cục THADS quận Ngô Quyền;
- Trại tạm giam Công an thành phố Hải
Nguyễn Thị Thu Huyền Phòng;
- PV 06, PC 10 Công an thành phố Hải Phòng;
- Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng;
- Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
- Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh T;
- Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đào Thị Hƣơng
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND thành phố Hải Phòng; - VKSND quận Ngô Quyền; - Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền; - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an quận Ngô Quyền; - Chi cục THADS quận Ngô Quyền; - Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng; - PV 06, PC 10 Công an thành phố Hải Phòng; - Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng; - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng; - Ủy ban nhân dân phường Trại Cau, quận Ngô Quyền, Hải Phòng - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Hƣơng |