- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trƣơng Văn T, sinh năm 1989; N - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Căn cứ chính? Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…
| Tßa ¸n nh©n d©n HUYỆN QUẢNG XƢƠNG TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B¶n ¸n sè: 88 /2022/HS-ST Ngµy: 30 - 9 - 2022 |
Nh©n danh
N íc céng hoµ x· héi chñ nghÜa ViÖt nam
Toµ ¸n nHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƢƠNG - TØnh Thanh ho¸
- Thµnh phÇn Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã:
ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ: Bµ Bïi ThÞ HuyÒn
C¸c Héi thÈm nh©n d©n: Bà Nguyễn Thị Lệ Thanh - giáo viên hƣu trí
Bà Nguyễn Thị Hà Thu - giáo viên
- Th ký phiªn toµ: Bà Lê Minh Hiền - Th kýTòa án nhân dân huyện Quảng Xƣơng, tØnh Thanh Ho¸.
- §¹i diÖn Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương, tØnh Thanh Ho¸ tham gia phiªn toµ: Ông Trần Mạnh Cƣờng - KiÓm s¸t viªn
Ngµy 30 th¸ng 9 n¨m 2022 t¹i trô së Toµ ¸n nh©n d©n huyện Quảng Xƣơng, tØnh Thanh Ho¸ xÐt xö s¬ thÈm c«ng khai vô ¸n h×nh sù s¬ thÈm thô lý sè 58/2022/TLST- HS ngµy 25 th¸ng 7 n¨m 2022 theo QuyÕt ®Þnh ® a vô ¸n ra xÐt xö sè 80 /2022/Q§XXST- HS ngµy 05 th¸ng 9 n¨m 2022. Quyết định hoãn phiên tòa số 72 ngày 20/9/2022 đối với các bị cáo.
1. Trƣơng Văn T, sinh năm 1989; Nơi cƣ trú: Thôn 9, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Ho¸; nghÒ nghiÖp: Lao động tự do; tr×nh ®é v¨n ho¸: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con «ng Trƣơng Thùy H và bà Đoàn Thị T; vợ: Đoàn Thị H, có 01 con; tiÒn ¸n, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 05/10/2015 Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng về tội "Đánh bạc". Ngày 18/12/2015 Công an thành phố T, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau; tạm giữ: không; tạm giam từ ngày 18/5/2022 tại nhà tạm giữ công an huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Đới Sỹ S, sinh năm 1992; Nơi cƣ trú: Thôn P xã Q, thành phố S tỉnh Thanh Ho¸; nghÒ nghiÖp: lao động tự do; tr×nh ®é v¨n ho¸: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con «ng Đới Sỹ V và bà Lƣu Thị C; vợ: Nguyễn Thị H, có 02 con; tiÒn ¸n: Ngày 21/9/2016 Tòa án nhân dân thị xã S (nay là thành phố S), tỉnh Thanh Hóa xử phạt 09 tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng và 3.000.000d tiền phạt bổ sung về tội "Đánh bạc" (chấp hành xong hình phạt bổ sung ngày 29/3/2022, chấp hành sau khi phạm tội trong vụ án này, chƣa xóa án); tiền sự; không; nhân thân: Ngày 25/10/2017 Tòa án nhân dân quận Cầ xử phạt 30 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/01/2020, chấp hành xong nghĩa vụ dân sự ngày 16/9/2021 (đã xóa án); tạm giữ: không; tạm giam từ ngày 30/5/2022 tại nhà tạm giữ công an huyện Q, tỉnh hanh Hóa. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3. Phạm Kim K, sinh ngày 16/3/2004; Nơi cƣ trú: Thôn P, xã Q, thành phố S, tỉnh Thanh Ho¸; nghÒ nghiÖp: lao động tự do; tr×nh ®é v¨n ho¸: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con «ng: Phạm Kim M và bà Lê Thị L; vợ: chƣa; tiÒn ¸n: không; tiền sự: Ngày 24/10/2021 Công an thành phố S, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền về hành vi đánh nhau (hành vi ngày 08/5/2021). Ngày 22/11/2021 Công an thành phố S, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền về hành vi xâm hại đến sức khỏe ngƣời khác; nhân thân: Ngày 10/3/2021 Công an thành phố S, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền về hành vi đánh nhau (đã nộp tiền phạt ngày 06/5/2021). Ngày 04/01/2022 Tòa án nhân dân thành phố S, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 10 tháng tù về tội " Gây rối trật tự công cộng" (phạm tội khi chƣa đủ 18 tuổi). Hiện đang chấp hành án tại trại tạm giam công an tỉnh Thanh Hóa tù ngày 20/02/2022. Bị cáo có mặt tại phiên tòa
4. Phạm Kim T sinh ngày 02/08/2005; Nơi cƣ trú: Thôn P xã Qi, thành phố S, tỉnh Thanh Ho¸; nghÒ nghiÖp: lao động tự do; tr×nh ®é v¨n ho¸: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con «ng Phạm Kim H và bà Viên Thị H; vợ: chƣa; tiÒn ¸n: không; tiền sự: Ngày 24/10/2021 Công an thành phố S, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền về hành vi đánh nhau. Ngày 22/11/2021 Công an thành phố S, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền về hành vi xâm hại đến sức khỏe ngƣời khác; tạm giữ: không; tạm giam từ ngày 30/5/2022 tại nhà tạm giữ công an huyện Quảng Xƣơng, tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
5. Đới Sỹ N, sinh năm 1999; Nơi cƣ trú: Thôn P xã Q, thành phố S, tỉnh Thanh Ho¸; nghÒ nghiÖp: lao động tự do; tr×nh ®é v¨n ho¸:11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con «ng Đới Sỹ N và bà Cao Thị C; vợ: Lê Thị H, có 01 con; tiÒn ¸n, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 31/7/2020 Công an huyện Quảng Xƣơng, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền về hành vi xâm hại đến sức khỏe ngƣời khác; tạm giữ, tạm giam: không. Hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cƣ trú. Bị cáo hiện tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
6. Hoàng Văn P, sinh ngày 05/9/2003; Nơi cƣ trú: Thôn 8, Q, huyện Q, tỉnh Thanh Ho¸; nghÒ nghiÖp: lao động tự do; tr×nh ®é v¨n ho¸: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con «ng Hoàng Văn T và bà Đinh Thị Ngọc H; vợ: chƣa; tiÒn ¸n, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 10/3/2021 Công an thành phố S xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền về hành vi đánh nhau (khi thực hiện hành vi chƣa đủ 18 tuổi); tạm giữ, tạm giam: không. Hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cƣ trú. Bị cáo hiện tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo Phạm Kim T:
Luật Sƣ Nguyễn Thị H - Công ty Luật TNHH Năm Châu, thuộc Đoàn Luật sƣ tỉnh Thanh Hóa - có mặt
* Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Phạm Kim T:
Bà Viên Thị H - sinh năm 1983 ( mẹ bị cáo) - có mặt Địa chỉ: Thôn P, xã Q, thành phố S, tỉnh Thanh Ho¸;
* Bị hại: Anh Võ Duy T - sinh năm 1989 - vắng mặt Nơi cƣ trú: Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.
* Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Quang D - sinh năm 1990 - vắng mặt Nơi cƣ trú: Thôn G, xã Q, h. Q, tỉnh Thanh Hóa.
2. Chị Viên Thị H – sinh năm 1983 - vắng mặt Nơi cƣ trú: Thôn P, xã Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.
3. Chị Lê Thị Ngọc - sinh năm 1976 - vắng mặt Nơi cƣ trú: Thôn Mậu Đông, xã Quảng Lƣu, h. Quảng Xƣơng, tỉnh Thanh Hóa.
4. Chị Trƣơng Thị N - sinh năm 1984 - vắng mặt Nơi cƣ trú: Thôn H, xã Q, h. Q, tỉnh Thanh Hóa.
5. Anh Tô Ngọc T – sinh năm 1984 - vắng mặt Nơi cƣ trú: Thôn H, xã Q, h. Q, tỉnh Thanh Hóa.
6. Anh Phạm Sỹ Đ - sinh năm 1989 - vắng mặt Nơi cƣ trú: Thôn H, xã Q, h. Q, tỉnh Thanh Hóa.
7. Chị Nguyễn Thị H - sinh năm 1985 - vắng mặt Nơi cƣ trú: Thôn 1, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.
8. Chị Lê Thị H - sinh năm1991 - vắng mặt Nơi cƣ trú: Thôn Mậ, xã Q, h. Q, tỉnh Thanh Hóa.
9.Anh Lê Hữu H - sinh năm 1978 - vắng mặt Nơi cƣ trú: Thôn Hiền Tây, xã Quảng Lƣu, h. Quảng Xƣơng, tỉnh Thanh Hóa.
10. Bà Hoàng Thị Hà – sinh năm 1964 - vắng mặt Nơi cƣ trú: Thôn L, xã Q, h. Q, tỉnh Thanh Hóa.
11. Chị Lê Thị T - sinh năm 1997 - vắng mặt Nơi cƣ trú: Thôn M, xã Q, h. Q, tỉnh Thanh Hóa.
12. Anh Hoàng Văn T - sinh năm 2003 - vắng mặt Nơi cƣ trú: Thôn P, xã Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa
13. Anh Phạm Công H - sinh năm 2003 - vắng mặt Nơi cƣ trú: Thôn X, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa
Néi dung vô ¸n:
Theo c¸c tµi liÖu cã trong hå s¬ vô ¸n vµ diÔn biÕn t¹i phiªn toµ, néi dung vô ¸n ® îc tãm t¾t nh sau:
Khoảng 15h 00' ngày 11/02/2022 Hoàng Văn T (sinh năm 2003, ở Thôn P, xã Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa) điều khiển xe mô tô trở Trƣơng Văn T (T là cậu ruột của T) đến chợ Q ở xã Q huyện Q để mua đồ về làm lễ khao đất. Đến 15h 20' cùng ngày sau khi mua xong cả hai ra lấy xe gửi ở nhà xe chợ Q để ra về. Khi đi ra đến cổng chợ, T gặp anh Vũ Duy T (sinh năm 1989, ở Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa) là ngƣời trông xe và thu tiền gửi xe, T đƣa cho T 2.000đ thì T nói: "tiền vé xe là 3000đ". Do không có tiền lẻ nên Tuấn nói: "cho nợ 1.000đ đƣợc không", T nói: "tao không biết, gửi xe thì phải trả tiền", rồi Tiến đóng cửa cổng lại không cho T đi, hai bên xảy ra to tiếng, lời qua tiếng lại.
Bực tức với thái độ của T, T liền gọi điện cho Đới Sỹ S đến để giúp mình đánh T. Lúc này S đang ngồi ăn nhậu cùng với bạn là Phạm Kim T, Phạm Kim K, Hoàng Văn P tại nhà S, nên khi T gọi điện đến, S mở loa ngoài cho mọi ngƣời cùng nghe, T nói với S: "Anh đang xô sát, va chạm dƣới chợ Q, anh gọi anh em xuống đây giúp anh" rồi tắt máy. Sau đó Sáu nói lại với mọi ngƣời: "Anh T bạn anh vừa gọi, anh ấy đang xô sát, va chạm với thằng nào đó dƣới Q, bây giờ anh phải xuống đó giúp anh ấy", thì T, K, P đều nói: "Để bọn em đi cùng với xem có gì thì bọn em giúp". Khi tất cả đang lấy xe chuẩn bị đi thì Đới Sỹ N đi đến nhà S, thấy mọi ngƣời đang chuẩn bị đi nên N hỏi: “Anh em đi đâu đấy", S trả lời; "Anh T bạn anh đang va chạm dƣới Q nên bọn anh đang đi xuống xem thế nào". Nghe vậy, N nói: "Để em đi cùng luôn có gì em giúp". Rồi S chở T; N chở K và P cùng nhau đi đến chợ Q. Trong khoảng thời gian này, công an xã Q đã đến chợ Q giải quyết nên T và T về. Trên đƣờng về, do vẫn còn bực tức, nên T tiếp tục gọi điện cho S nói: "Em xuống đến đâu rồi", S nói "Bọn em xuống gần đến nơi rồi" rồi tắt máy. T gọi lại cho S nói: "Anh đợi ở ngã tƣ Q, anh em xuống đi". Khi đến ngã tƣ Q, T bảo T dừng lại đợi, một lúc sau nhóm S đến, gặp nhau tại ngã tƣ Q T nói: "Anh đƣa thiếu tiền vé xe cho thằng thu vé ở chợ Q, thằng này thái độ bố láo với anh, bây giờ anh em đi cùng anh đến đánh cho nó một trận cho nó hết láo đi" thì S, K, T, N, P đều đồng ý. Riêng T đứng xa không nghe thấy việc T rủ nhóm S đi đánh T.
Sau đó T đi lại nói với T: "Chở cậu quay lại chợ", T đồng ý điều khiển xe chở T; S chở T; N chở K và P cùng nhau quay lại chợ Q. Đến nơi T, S, P, N,T, K xuống xe đi vào chợ. Thấy mọi ngƣời trong nhóm kéo vào đông nên Pg không vào nữa mà ngồi trên xe đợi, đề phòng trƣờng hợp có vấn đề gì thì chở mọi ngƣời bỏ chạy, còn T đứng ngoài đợi T ra. Khi vào chợ gặp T, T đi lại chỉ vào ngƣời T cho cả nhóm biết rồi T dùng tay tát vào mặt T 01 cái; thấy vậy T, K xông vào dùng tay chân đánh T. Lúc này anh Phạm Công H (sinh năm 2003, ở thôn X, xã Q) cũng là ngƣời trông xe của chợ Q cùng với T, thấy T bị đánh chạy lại can ngăn liền bị S, N dùng tay chân đánh ngăn cản. Lúc này K chạy ra trƣớc cổng chợ nhặt 02 viên gạch chỉ cầm ở hai tay chạy lại ném 01 viên ở tay phải về phía T thì trúng vào đầu, còn 01 viên K ném về phía H nhƣng không trúng. Lúc này T lấy 01 ghế nhựa ở cổng chợ đập về phía T rồi ném ghế về phía H nhƣng không trúng. Thấy T bị thƣơng, chảy máu ở đỉnh đầu nên cả nhóm không đánh nữa mà bỏ ra về. Còn T đƣợc mọi ngƣời đƣa đi Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh hóa điều trị.
Hậu quả: Phạm Công H bị thƣơng tích cụ thể: 01 vết sƣng nề tại vùng đuôi cung lông mày phải, kích thƣớc (1x2)cm; 01 vết sƣng tấy đỏ tại vùng cổ tay phải, kích thƣớc (3x4)cm. Do thƣơng tích nhẹ anh Hiếu không đi điều trị tại cơ sở y tế nào, ngày 28/02/2022 anh H có đơn đề nghị không xử lý ngƣời gây ra thƣơng tích cho mình.
Võ Duy T bị thƣơng tích: 01 vết thƣơng vùng trán đỉnh dài 4cm, bờ mép vết thƣơng nham nhở, chảy máu. Vùng mắt phải sƣng, bầm tím kích thƣớc (3x2)cm. Trích bệnh án số 2210870 đối với bệnh nhân Võ Duy T của bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa thể hiện. Hố mắt phải tụ máu thâm đen, vùng trán trên bên phải vết rách da đầu khoảng 4cm, tụ dịch và còn phù nề vùng da đầu tổn thƣơng.
Để có căn cứ xử lý ngày 21/3/2022 cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Quảng Xƣơng đã trƣng cầu Trung tâm giám định pháp y tỉnh Thanh Hóa giám định tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể và cơ chế hình thành vết thƣơng đối với thƣơng tích của Võ Duy T
Tại bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 195/2022/TTPY ngày 30/3/2022 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Thanh Hóa kết luận:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
+ Chấn thƣơng vùng trán đỉnh gây ra thƣơng tích vỡ, rạn xƣơng trán lệch phải, hiện còn di chứng.
- Hình ảnh vỡ, rạn xƣơng trán lệch phải, kích thƣớc đƣờng vỡ, rạn 55m m, điện não không có tổn thƣơng tƣơng ứng: 16%
- Sẹo vết thƣơng phần mềm vùng trán đỉnh phải, kích thƣớc sẹo trung bình: 02%
+ Vùng mắt phải sƣng, bầm tím đã điều trị; hiện tại không còn sƣng nề, bầm tím, không còn vết biến đổi rối loạn sắc tố da, không có di chứng tổn thƣơng cơ quan chức năng do chấn thƣơng: 0%
2. Kết luận: Tại thời điểm giám định pháp y về thƣơng tích: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên đối với Võ Duy T đƣợc tính theo phƣơng pháp xác định tỷ lệ phần trăm tổn thƣơng cơ thể là: 18%.
Tại bản kết luận giám định pháp y về cơ chế hình thành thƣơng tích, xác định vật gây thƣơng tích đối với thƣơng tích của Võ Duy T số 282/2022/TTPY ngày 04/5/2022 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Thanh Hóa kết luận:
- 01 vết thƣơng vùng trán đỉnh dài 4cm, bờ mép vết thƣơng nham nhở, chảy máu do tác động của ngoại lực, đƣợc tạo bởi vật tày có cạnh. Gây tổn thƣơng vỡ, rạn xƣơng trán lệch phải.
- Vùng mặt phải sƣng, bầm tím kích thƣớc 3x2cm. Do tác động của ngoại lực, đƣợc tạo bởi vật tày hoăc vật tày có cạnh
- Đối với 01 viên gạch hình hộp chữ nhật màu đỏ kích thƣớc 21,3cm x 9,5cmx 5,6cm loại gạch nung có 02 lỗ nếu đƣợc sử dụng làm vật gây thƣơng tích thì có thể gây ra đƣợc các vết thƣơng cho anh Võ Duy T.
- Tại thời điểm giám định pháp y về cơ chế hình thành thƣơng tích không đủ chứng cứ khoa học và các dữ liệu khách quan để xác định chính xác chiều hƣớng tác động và lực tác động của vật gây thƣơng tích.
* Theo báo cáo của bị hại anh Võ Duy T yêu cầu bồi thƣờng:
- Chi phí điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa, bệnh viện Việt Đức Hà Hội và thuốc men là 15.000.000đ (không có hóa đơn chứng từ). Chi phí đi lại thăm khám tại bệnh viện Việt Đức, Hà Nội là 3.000.000đ. Công ngƣời chăm sóc từ ngày 11/01/2022 đến ngày 18/02/2022 là 08 ngày x 300.000đ/ngày = 2.400.000đ. Thiệt hại do mất thu nhập thực tế từ ngày 11/01/2022 đến ngày 18/02/2022 là 08 ngày x 200.000đ/ngày = 1.600.000đ và một khoản bồi thƣờng về tổn thất tinh thần theo qui định của pháp luật. Quá trình điều tra Võ Duy T không nhận tiền bồi thƣờng của các bị can mà yêu cầu pháp luật giải quyết.
Khám nghiệm hiện trƣờng cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ 02 viên gạch hộp chữ nhật màu đỏ và 11 mảnh gạch nhỏ. Đây là vật chứng của vụ án không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Trong vụ án này: Hành vi của Hoàng Văn T điều khiển xe chở Trƣơng Văn T, mục đích để đi chợ. Trong suốt quá trình nhóm của T bàn bạc rủ rê đi đánh nhau, T không tham gia cùng bàn bạc, vì vậy không có căn cứ để xử lý đối với T.
Đối với xe mô tô BKS 36B6-96048 Đới Sỹ S sử dụng để đi đánh nhau là của chị Nguyễn Thị H (vợ của S); xe mô tô BKS 36B1-65880 Đới Sỹ N sử dụng để đi đánh nhau là của bà Viên Thị T (mẹ N). Chị H và bà T không biết S và N sử dụng xe của mình để đi đánh nhau nên cơ quan CSĐT không tiến hành truy thu là phù hợp.
Đối với chiếc điện thoại Iphone 6 màu vàng của Trƣơng Văn T và 01 chiếc điện thoại Nokia 1280 của Đới Sỹ S. Đây là điện thoại T và S sử dụng để liên lạc đi đánh nhau. Quá trình điều tra T và S khai sau khi sự việc xảy ra trên đƣờng đi về nhà S đã làm rơi không xác định đƣợc ở đâu, còn T khai bị hỏng do rơi điện thoại không sử dụng đƣợc đã vứt đi.
Tại bản cáo trạng số 81/CTr-VKSQX ngày 22 tháng 7 năm 2022 cña ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huyện Quảng Xƣơng, tỉnh Thanh Hoá truy tè Trƣơng Văn Tuấn, Phạm Kim K, Đới Sỹ S, Phạm Kim T, Đới Sỹ N, Hoàng Văn P về tội "Cố ý gây thƣơng tích" theo điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS.
T¹i phiªn tßa ®¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t huyện Quảng Xƣơng, tỉnh Thanh Hoá Hoá luËn téi vÉn gi÷ nguyªn quyÕt ®Þnh truy tè các bÞ c¸o, ®ång thêi ®Ò nghÞ héi ®ång xÐt xö ¸p dông
1. Trƣơng Văn T: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 BLHS đề nghÞ xö ph¹t bÞ c¸o từ 36 đến 39 tháng tù
2. Phạm Kim : điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s, b khoản 1, 2 Điều 51; Điều 56; Điều 91; Điều 101; Điều 38; Điều 17; Điều 58 BLHS đề nghÞ xö ph¹t bÞ c¸o từ 20 đến 23 tháng tù. Tổng hợp với 10 (mƣời) tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2022/HS-ST ngày 04/01/2022 Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án.
3. Đới Sỹ S: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s, b khoản 1, 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58 BLHS đề nghÞ xö ph¹t bÞ c¸o từ 24 đến 27 tháng tù
4. Phạm Kim T: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s, b khoản 1, 2 Điều 51; Điều 91; Điều 101; Điều 38; Điều 17; Điều 58 BLHS đề nghÞ xö ph¹t bÞ c¸o từ 18 đến 21 tháng tù
5. Đới Sỹ N: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s, b khoản 1,2 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 58 BLHS đề nghÞ xö ph¹t bÞ c¸o từ 24 đến 27 tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo.
6. Hoàng Văn P: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s, b khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 58 BLHS đề nghÞ xö ph¹t bÞ c¸o từ 24 đến 27 tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo
- Đối với 02 viên gạch hộp chữ nhật màu đỏ và 11 mảnh gạch nhỏ là hung khí mà các bị cáo sử dụng gây án, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy.
- Chấp nhận sự tự nguyện của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay liên đới bồi thƣờng cho bị hại tiền thuốc, tiền điều trị tại bệnh viện, tiền mất thu thập và tiền công ngƣời chăm sóc: số tiền là 22.000.000đ. Buộc các bị cáo phải bồi thƣờng số tiền tổn thất về tinh thần số tiền là 15.000.000đ. Tổng là 37.000.000đ, chia theo phần bị cáo Klà ngƣời trực tiếp gây thƣơng tích cho bị hại phải bồi thƣờng 8.000.000đ; bị cáo P là ngƣời đứng ngoài vai trò thấp nhất bồi thƣờng số tiền 4.000.000đ; bị cáo T vai trò đầu, khởi xƣớng bồi thƣờng số tiền 7.000.000đ; các bị cáo N, S, T mỗi bị cáo bồi thƣờng 6.000.000đ cho bị hại. Quá trình chuẩn bị xét xử bị cáo N, S đã tự nguyện bồi thƣờng cho bị hại mỗi bị cáo 5000.000đ, bị hại đã nhận; bị cáo K, Tg mỗi bị cáo đã tự nguyện bồi thƣờng cho bị hại 3.500.000đ; bị cáo P đã bồi thƣờng cho bị hại 3.000.000đ hiện đang lƣu giữ tại thi hành án dân sự huyện Quảng Xƣơng, vì vậy cần xem xét trừ đi và buộc các bị cáo phải bồi thƣờng số tiền còn lại.
Ngƣời bào chữa cho bị cáo Phạm Kim Tg: Về tội danh đối với bị cáo không tranh luận gì, đề nghị hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo sau khi phạm tội và tại phiên tòa hôm nay đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thƣờng số tiền 3.5000.000đ cho bị hại, bị cáo có ông nội là ngƣời có công với cách mạng, đây là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo đƣợc qui định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo khi phạm tội chƣa đủ 18 tuổi, nhận thức còn hạn chế, chƣa hiểu hết qui định của pháp luật, vì vậy đề nghị áp dụng Điều 91; Điều 101 BLHS xem xét giảm nhẹ cho bị cáo và áp đụng Điều 54 BLHS cho bị cáo đƣợc hƣởng mức án dƣới khung hình phạt.
Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát; lời sau cùng đều đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Quảng Xƣơng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xƣơng Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên toà hôm nay: Lêi khai cña bị cáo thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, ngƣời làm chứng kết luận giám định thƣơng tích, cïng c¸c tµi liÖu chứng cứ khác đƣợc thu thập phản ¸nh trong hå s¬. §ñ c¬ së chøng minh: Do có mâu thuẫn xuất phát từ tiền gửi xe giữa Trƣơng Văn T với anh Võ Duy T, nên Trƣơng Văn T đã rủ Đới Sỹ S, Phạm Kim K, Phạm Kim T, Đới Sỹ N, Hoàng Văn P đến đánh Võ Duy T. Sau đó khoảng 15h30' ngày 11/02/2022 tại bãi gửi xe của chợ Q thuộc xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Trƣơng Văn T, Đới Sỹ S, Phạm Kim K, Phạm Kim T, Đới Sỹ N, đã có hành vi dùng tay, chân, ghế nhựa, gạch đánh anh Tiến và anh Phạm Công H, còn Hoàng Văn P ở ngoài ngồi trên xe đã nổ máy sẵn trở mọi ngƣời bỏ chạy. Hậu quả anh Võ Duy T bị tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây ra là 18%, còn Phạm Công H có đơn từ chối giám định. Nªn tại phiên tòa đại diện ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huyện Quảng Xƣơng luËn téi vµ gi÷ nguyªn quyÕt ®Þnh truy tố các bị cáo về tội “Cố ý gây thƣơng tích” theo điểm đ kho¶n 2 §iÒu 134 Bé luËt h×nh sự lµ cã c¨n cø, phï hîp ph¸p luËt. Héi ®ång xÐt xö cã ®ñ c¬ së kÕt luËn: Hµnh vi ph¹m téi cña các bị cáo cã ®Çy ®ñ dÊu hiÖu cÊu thµnh téi “Cè ý g©y th ¬ng tÝch”. Do các bÞ c¸o dùng tay, chân, ghế nhựa, gạch (trong đó có gạch đƣợc xác định là hung khí nguy hiểm) đánh gây thƣơng tích cho anh T làm anh T mất 18% sức khỏe, do vậy các bị cáo phải chịu chung tình tiết định khung và phải chịu trách nhiệm hình sự đƣợc qui định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS.
. VÒ tÝnh chÊt vô ¸n: Đây là vụ án cố ý gây thƣơng tích xuất phát từ mâu thuẫn rất nhỏ, hai bên có thể giải quyết đƣợc với nhau bằng lời nói hoặc có thể bỏ qua cho nhau, nhƣng do bực tức, nóng giận các bị cáo đã có hành vi dùng tay, chân, ghế nhựa, gạch đánh gây thƣơng tích cho anh Võ Duy T làm anh T bị tổn hại 18% sức khỏe. Hành vi của các bị cáo đã x©m ph¹m vµ g©y tæn h¹i ®Õn th©n thÓ, søc khoÎ cña ng êi kh¸c, lµm mÊt trËt tù trÞ an nơi khu vực chợ, g©y d luËn xÊu và bất bình trong quÇn chóng nh©n d©n, lµ hµnh vi nguy hiÓm cho x· héi, do ®ã ph¶i ® îc xö lý nghiªm minh.
.Về vai trò, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Trong vô ¸n nµy c¸c bÞ c¸o thực hiện hành vi nh ng kh«ng cã sù bµn b¹c, ph©n c«ng vai trß cô thÓ với nhau từ trƣớc, khi có ngƣời rủ thì đồng ý tham gia, và tự hiểu ý nhau cùng thực hiện hành vi phạm tội, nªn các bÞ c¸o thùc hiÖn hµnh vi d íi h×nh thøc ®ång ph¹m giản đơn.
. Bị cáo T là ngƣời rủ rê lôi kéo các bị cáo khác tham gia nên giữ vai trò thứ nhất. Bị cáo K trực tiếp dùng gạch gây thƣơng tích cho anh T nên giữ vai trò thứ hai. Bị cáo S, T, N là ngƣời trực tiếp giúp T gây thƣơng tích cho anh T nên giữ vai trò thứ ba. Hoàng Văn Pg tham gia với vai trò giúp sức ở ngoài ngồi trên xe chờ để trở mọi ngƣời bỏ chạy nên giữ vai trò thứ tƣ.
. Bị cáo T tham gia vụ án với vai trò đầu nhƣ đánh giá ở trên nên mức án sẽ cao nhất, bị cáo có nhân thân xấu đã từng bị tòa án xét xử và bị xử phạt hành chính, nên việc cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo giáo dục các bị cáo và nhằm răn đe phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo vì thành khẩn khai báo đƣợc qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS
. Bị cáo K giữ vai trò thứ hai, nên mức án sẽ cao thứ hai, bản thân bị cáo cũng có nhân thân rất xấu, có 02 tiền sự chƣa xóa, vừa bị Tòa án nhân dân thành phố S,tỉnh Thanh Hóa xét xử 10 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, bản án chƣa có hiệu lực pháp luật, bị cáo chƣa đi chấp hành án lại tiếp tục phạm tội, chứng tỏ xem thƣờng pháp luật, nên việc cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo giáo dục bị cáo và nhằm răn đe phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo một phần vì thành khẩn khai báo, bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thƣờng cho bị hại số tiền 3.500.000đ để khắc phục một phần hậu quả, bị cáo có ông nội là thƣơng binh và là ngƣời có công với cách mạng đƣợc Chủ tịch nƣớc tặng thƣởng Huân chƣơng chiến sỹ vẻ vang hạng nhì, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo đƣợc qui định tại điếm s, b khoản 1, 2 Điều 51 BLHS. Không áp dụng mức hình phạt dƣới khung cho bị cáo Kiệm nhƣ đề nghị của Luật sƣ. Bị cáo K khi phạm tội chƣa đủ 18 tuổi nên áp dụng Điều 91; khoản 1 Điều 101 BLHS ®Ó xem xÐt khi quyÕt ®Þnh h×nh ph¹t cho bị cáo.
. Bị cáo S, T tham gia vai trò thứ 3, nên mức án sẽ cao thứ 3. Bị cáo S có nhân thân xấu, có 01 tiền án chƣa xóa là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo T có 02 tiền sự chƣa xóa, nên việc cách ly cả hai bị cáo S và T khỏi xã hội 01 thời gian là cần thiết để cải tạo giáo dục các bị cáo và nhằm răn đe phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo S vì thành khẩn khai báo, bị cáo tác động đến gia đình tự nguyện bồi thƣờng cho bị hại số tiền 5.000.000đ để khắc phục một phần hậu quả, bị hại đã nhận số tiền này và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo S có bố đẻ là ngƣời có công với cách mạng đƣợc Nhà nƣớc tặng thƣởng Huân chƣơng kháng chiến hạng Nhì, đây là các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo đƣợc qui định tại điểm s, b khoản 1,2 Điều 51 BLHS. Giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo T vì thành khẩn khai báo, bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thƣờng cho bị hại số tiền 3.500.000đ để khắc phục một phần hậu quả, bị cáo có ông nội là thƣơng binh và là ngƣời có công với cách mạng đƣợc Chủ tịch nƣớc tặng thƣởng Huân chƣơng chiến sỹ vẻ vang hạng nhì, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo đƣợc qui định tại điểm s, b khoản 1, 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo T khi phạm tội cũng chƣa đủ 18 tuổi nên áp dụng Điều 91; khoản 1 Điều 101 BLHS ®Ó xem xÐt khi quyÕt ®Þnh h×nh ph¹t cho bị cáo.
. Bị cáo Nnhân thân có 01 lần bị xử lý hành chính nhƣng cho đến nay đã đƣợc xóa, bị cáo tham gia trong vụ án này với vai trò thứ yếu, không đáng kể, hơn nữa bản thân bị cáo sau khi phạm tội và tại phiên tòa hôm nay thành khẩn khai báo; đã tự nguyện đến gia đình bị hại bồi thƣờng cho bị hại số tiền 5.000.000đ để khắc phục một phần hậu quả, bị hại đã nhận số tiền này và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo đƣợc qui định tại điểm s, b khoản 1, 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo P nhân thân cũng có 01 lần bị xử lý hành chính cho đến nay đã đƣợc xóa, bị cáo cũng tham gia trong vụ án này với vai trò thứ yếu sau cùng, bản thân sau khi phạm tội và tại phiên tòa hôm nay thành khẩn khai báo, đã tự nguyện bồi thƣờng cho bị hại số tiền 3.000.000đ để khắc phục một phần hậu quả, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo đƣợc qui định tại điểm s, b khoản 1 Điều 51 BLHS. Nhƣ đánh giá cả hai bị cáo N và P tham gia với vai trò sau, thứ yếu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cƣ trú rõ ràng, xét thấy các bị cáo có khả năng tự cải tạo, chƣa cần thiết phải cách ly bị các bị cáo khỏi xã hội mà áp dụng Điều 65 BLHS cho bị cáo đƣợc hƣởng án treo, cải tạo tại địa phƣơng cũng đủ tác dụng răn đe giáo dục bị cáo và phù hợp với hƣớng dẫn qui định tại khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP hƣớng dẫn áp dụng về án treo và Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP sửa đổi bổ sung Nghị quyết 02/2018, để bị cáo thấy đƣợc sự khoan hồng của pháp luật mà cải tạo, trở thành ngƣời công dân có ích cho xã hội.
. Đối với bị cáo Phạm Kim K tại Bản án HSST số 01/2022/HS-ST ngày 04/01/2022 Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 10 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, bản án đã có hiệu lực pháp luật và bị cáo đã đi chấp hành án từ ngày 20/02/2022. Áp dụng Điều 56 BLHS, tổng hợp hình phạt của bản án mới và buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án
. VÒ vËt chøng: Đối với những vật chứng gồm: 02 viên gạch hộp chữ nhật màu đỏ và 11 mảnh gạch nhỏ. Hiện các vật chứng trên đang lƣu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quảng Xƣơng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/8/2022, số vật chứng này đều là hung khí mà các bị cáo sử dụng phạm tội, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy.
. VÒ tr¸ch nhiÖm d©n sù: Theo báo cáo của anh Võ Duy T thời gian điều trị tại bệnh viện, anh phải chi phí điều trị gồm: Chi phí điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa. Bệnh viện Việt Đức Hà nội và thuốc men là 15.000.000đ (không có hóa đơn chứng từ). Chi phí đi lại thăm khám tại bệnh viện Việt Đức, Hà Nội là 3.000.000đ (không có hóa đơn chứng từ). Công ngƣời chăm sóc từ ngày 11/01/2022 đến ngày 18/02/2022 là 08 ngày x 300.000đ/ngày = 2.400.000đ. Thiệt hại do mất thu nhập thực tế từ ngày 11/01/2022 đến ngày 18/02/2022 là 08 ngày x 200.000đ/ngày = 1.600.000đ. Tổng anh yêu cầu bồi thƣờng là 22.000.000đ và một khoản bồi thƣờng về tổn thất tinh thần theo qui định của pháp luật.
. Theo các tài liệu có trong hồ sơ anh T trình bầy: các khoản chi phí và tiền mất thu nhập cũng nhƣ tiền công ngƣời chăm sóc nhƣ nêu ở phần trên anh chỉ trình bầy, anh không xuất trình đƣợc chứng từ hóa đơn tiền thuốc và các giấy tờ liên quan khác, lý do không cung cấp đƣợc là do anh làm mất nên không nộp đƣợc, đề nghị tòa xem xét. T¹i phiªn toµ h«m nay qua xét hỏi, c¸c bÞ c¸o đều thèng nhÊt đồng ý cùng liên đới bồi thƣờng cho anh T số tiền 22.000.000đ mà anh Tiến đã yêu cầu và tiền tổn thất về tinh thần theo qui định của pháp luật, v× vËy héi ®ång xÐt xö chấp nhận sự đồng ý thống nhất của các bị cáo, c¨n cø §iÒu 590; Điều 288; Điều 290 BLDS 2015 buộc các bị cáo phải có trách nhiệm liên đới bồi thƣờng cho anh T số tiền 22.000.000đ và liên đới bồi thƣờng cho anh T số tiền tæn thÊt vÒ tinh thÇn do søc khỏe bÞ x©m ph¹m là 15.000.000đ. Tổng c¸c kho¶n buéc 06 bÞ c¸o ph¶i liªn ®íi båi th êng cho anh T là 37.000.000đ và đƣợc chia theo phần bồi thƣờng cụ thể:
. Bị cáo K là ngƣời trực tiếp gây thƣơng tích cho anh T nên buộc bị cáo phải bồi thƣờng nhiều nhất số tiền là 8.000.000đ. Bị cáo T là ngƣời khởi xƣớng nên bồi thƣờng số tiền 7.000.000đ. Bị cáo P là ngƣời đứng ngoài giúp sức không trực tiếp gây thƣơng tích nên bồi thƣờng số tiền 4.000.000đ. Các bị cáo S, N, T mỗi bị cáo bồi thƣờng 6.000.000đ. Hiện tại Bị cáo S, N đã bồi thƣờng cho anh T số tiền 5.000.000đ (anh T đã nhận), nay buộc bị cáo S, Ngọc mỗi bị cáo phải bồi thƣờng tiếp cho anh T số tiền mỗi bị cáo là 1.000.000đ. Bị cáo K, T mỗi bị cáo đã bồi thƣờng cho anh T số tiền 3.500.000đ, bị cáo P đã bồi thƣờng cho anh Tsố tiền 3.000.000đ (số tiền này hiện đang lƣu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quảng Xƣơng theo biên lai thu số 0005025; 0005026; 0005027 ngày 19/9/2022), nay buộc bị cáo K phải bồi thƣờng tiếp cho anh T số tiền là 4.500.000đ, bị cáo T phải bồi thƣờng tiếp cho anh T số tiền 2.500.000đ, bị cáo P phải bồi thƣờng tiếp cho anh T số tiền 1.000.000đ.
.VÒ ¸n phÝ hình sự: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo là 200.000đ. Án phí dân sự sơ thẩm: bị cáo K, P, S, N, T mỗi bị cáo phải chịu án phí số tiền là: 300.000đ; bị cáo T phải chịu án phí số tiền là 350.000đ.
V× c¸c lÏ trªn;
QuyÕt ®Þnh
Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS (đối với các bị cáo); điểm b khoản 1 Điều 51 (đối với S, N, T, K, P); Khoản 2 Điều 51 BLHS (đối với S, N, Tr, K); Điều 38 BLHS (đối với T, K, T, S); Điều 65 BLHS (đối với N, P); Điều 91; khoản 1 Điều 101 BLHS (đối với K, T); Điều 56 BLHS (đối với bị cáo K). Điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 BLHS; khoản 1; điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 332, Điều 333 BLTTHS; Điều 590; Điều 288; Điều 290 BLDS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội qui định mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Điểm a, b tiểu mục 1.3 mục 1 phần II. A Danh mục án phí.
Tuyªn bè: Trƣơng Văn T, Phạm Kim K, Đới Sỹ S, Phạm Kim T, Đới Sỹ N, Hoàng Văn P phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”
1. Xö ph¹t: Trƣơng Văn T 34 (ba mƣơi tƣ) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 18/5/2022.
2 Xö ph¹t: Phạm Kim K 20 (hai mƣơi) tháng tù, tổng hợp với 10 (mƣời) tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2022/HS-ST ngày 04/01/2022 Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 30 (ba mƣơi) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/02/2022.
3. Xö ph¹t: Đới Sỹ S 24 (hai bốn) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/5/2022.
4. Xö ph¹t: Phạm Kim T 18 (mƣời tám) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/5/2022.
5. Xö ph¹t: Đới Sỹ Nc 24 (hai bốn) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 48 (bốn tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm
6. Xö ph¹t: Hoàng Văn P 24 (hai bốn) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 48 (bốn tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm
Giao bị cáo Đới Sỹ Nc cho Ủy ban nhân dân xã Qi, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Hoàng Văn P cho Ủy ban nhân dân xã Qi, huyện Quảng Xƣơng, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo qui định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hƣởng án treo theo qui định tại khoản 5 Điều 65 BLHS.
+ Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 viên gạch hộp chữ nhật màu đỏ và 11 mảnh gạch nhỏ. Hiện các vật chứng đang lƣu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quảng Xƣơng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/8/2022.
+ Về trách nhiệm dân sự:
Buộc các bị cáo phải liên đới bồi thƣờng cho anh Võ Duy T số tiền 37.000.000đ. Chia theo phần cụ thể:
- Buộc bị cáo K bồi thƣờng cho anh T số tiền 8.000.000đ, bị cáo Kiệm đã bồi thƣờng cho anh T số tiền 3.500.000đ (số tiền này hiện đang lƣu giữ tai thi hành án dân sự huyện Quảng Xƣơng theo biên lai thu số 0005025 ngày 19/9/2022), buộc bị cáo K phải bồi thƣờng tiếp cho anh T số tiền là 4.500.000đ.
- Buộc bị cáo T bồi thƣờng cho anh T số tiền 7.000.000đ.
- Buộc bị cáo S bồi thƣờng cho anh T 6.000.000đ, bị cáo Sáu đã bồi thƣờng cho anh T số tiền 5.000.000đ (anh T đã nhận), buộc bị cáo Sáu phải bồi thƣờng tiếp cho anh T số tiền là 1.000.000đ.
- Buộc bị cáo N bồi thƣờng cho anh T 6.000.000đ, bị cáo N đã bồi thƣờng cho anh T số tiền 5.000.000đ (anh T đã nhận), buộc bị cáo N phải bồi thƣờng tiếp cho anh Tiến số tiền là 1.000.000đ.
- Buộc bị cáo T bồi thƣờng cho anh T số tiền 6.000.000đ, bị cáo T đã bồi thƣờng cho anh T số tiền 3.500.000đ (số tiền này hiện đang lƣu giữ tai thi hành án dân sự huyện Quảng Xƣơng theo biên lai thu số 0005026 ngày 19/9/2022), buộc bị cáo T phải bồi thƣờng tiếp cho anh T số tiền là 2.500.000đ.
- Buộc bị cáo P bồi thƣờng cho anh T số tiền 4.000.000đ, bị cáo P đã bồi thƣờng cho anh T số tiền 3.000.000đ (số tiền này hiện đang lƣu giữ tai thi hành án dân sự huyện Quảng Xƣơng theo biên lai thu số 0005027 ngày 19/9/2022), buộc bị cáo P phải bồi thƣờng tiếp cho anh Tiến số tiền là 1.000.000đ.
Anh T đƣợc nhận lại số tiền 3.500.000đ do bị cáo K bồi thƣờng, số tiền 3.500.000đ do bị cáo T bồi thƣờng và 3.000.000đ do bị cáo P bồi thƣờng tại Cơ quan thi hành án dân sự huyện Quảng Xƣơng theo biên lai thu số 0005025; 0005026; 0005027 ngày 19/9/2022.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị hại có đơn yêu cầu thi hành án đối với số tiền bị cáo T phải bồi thƣờng và số tiền bị cáo S, N, P, T, K phải tiếp tục bồi thƣờng, nếu các bị cáo không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì hàng tháng còn phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi xuất qui định tại khoản 2 Điều 468 của BLDS tƣơng ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án
- ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm: Mỗi bị cáo ph¶i nép 200.000®.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo K, P, S, N, T mỗi bị cáo phải chịu án phí số tiền là: 300.000đ; bị cáo Tphải chịu án phí số tiền là 350.000đ.
Ng êi ® îc thi hµnh ¸n d©n sù, ng êi ph¶i thi hµnh ¸n d©n sù cã quyÒn tho¶ thuËn thi hµnh ¸n, quyÒn yªu cÇu thi hµnh ¸n, tù nguyÖn thi hµnh ¸n hoÆc bÞ c ìng chÕ thi hµnh ¸n theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 6,7, 7a ,9 cña LuËt Thi hµnh ¸n D©n sù, thêi hiÖu thi hµnh ¸n ® îc thùc hiÖn theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 30 cña LuËt Thi hµnh ¸n D©n sù.
C¸c bÞ c¸o; ngƣời đại diện hợp pháp của bị cáo, ngƣời bào chữa cã quyÒn kh¸ng c¸o trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n. Bị hại cã quyÒn kh¸ng c¸o trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy nhËn ® îc b¶n ¸n hoặc niêm yết bản án. N¬i nhËn
| - Các bÞ c¸o; Bị hại - Ngƣời bào chữa, Ngƣời ĐD hợp pháp - VKSND huyện Q; - C«ng an huyện Q; - Thi hành DS huyện Q; - L u hå s¬. | TM. Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ (đã ký) Bïi ThÞ HuyÒn |