- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức H và Trần Đức T "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đức H, Trần Đức T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 88/2022/HS-ST Ngày: 06 – 12 – 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Ngọc Nghĩa.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Bình.
Ông Mai Thương.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Vân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Đinh Công Quảng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 84/2022/TLST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2022/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2022, Quyết định thay đổi Hội thẩm số 30/2022/QĐ-TĐ ngày 02/12/2022, đối với các bị cáo:
1/ Nguyễn Đức H, sinh năm 2003 tại Bình Thuận;
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn A, xã V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1975 và bà Phạm Thị H2, sinh năm 1980; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; chưa có vợ, con;
Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 20/6/2021, phạm tội cố ý gây thương tích. Ngày 03/8/2022, Tòa án nhân dân huyện Đức Linh xử phạt 04 năm tù.
Bị bắt tạm giam từ ngày 14/9/2022. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận. Có mặt tại phiên tòa.
2/ Trần Đức T, sinh năm 2000 tại Bình Thuận;
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn T1, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị Thúy H3, sinh năm 1977; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; chưa có vợ, con;
Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang tại ngoại theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
+ Trần Thị Tuyết M, sinh năm 1983 (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Số X, đường Y, khu phố Z, thị trấn VX, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
+ Lê Thị M1, sinh năm 1962 (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Số E, đường F, khu phố S, thị trấn VX, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 03 giờ ngày 08/6/2022, Công an xã V phát hiện 02 đối tượng đi xe mô tô chở 01 bao tải có biểu hiện nghi vấn nên tổ tuần tra đuổi theo, 02 đối tượng trên chạy về hướng thôn B, xã V. Khi đến sân nhà ông Võ Hà Tr thì hai đối tượng bỏ xe mô tô 60B3 – 39971, 01 bao tải bên trong có 06 con chó đã chết và dụng cụ bắt trộm chó, rồi chạy trốn.
Vật chứng thu giữ: 01 bao tải bên trong có 06 con chó đã chết có tổng trọng lượng là 89kg; 01 ba lô màu đen bên trong có 01 máy chích điện tự chế gồm: 01 bình ắc quy loại 12V nối với 01 đoạn dây điện màu đen dài 1,1m có gắn trên 01 cây nhựa màu đen có 02 mũi nhọn dài 1,9m; 01 ba lô màu cam bên trong có 01 bình ắc quy loại 12V, 01 cây đèn pin; 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter gắn biển số 60B3 – 39971, có số máy G3D4E353213, số khung RLCUG0610GY336304.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 33 ngày 12/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đức Linh kết luận giá trị 02 con chó của bà Lê Thị M1 và bà Trần Thị Tuyết M tại thời điểm bị mất trị giá là 2.300.000 đồng.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 37 ngày 08/9/2022, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đức Linh kết luận giá trị 04 con chó do H, T trộm cắp không xác định được chủ sở hữu, tại thời điểm bị bắt trộm trị giá là 6.600.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra:
Bị cáo Nguyễn Đức H và Trần Đức T khai nhận: Vào đêm 07 rạng sáng ngày 08/6/2022, Nguyễn Đức H điều khiển xe mô tô biển số 60B3 – 39971 chở Trần Đức T đi từ V mang theo bình ắc quy tự chế thành máy chích điện đến thị trấn VX mục đích tìm chó chích điện cho chết mang về bán lấy tiền tiêu xài. H và T chạy quanh các đường trong thị trấn VX đã chích và bắt được 06 con chó của các hộ dân ở thị trấn VX. Cụ thể: Bắt của bà Lê Thị M1 ở khu phố Z, thị trấn VX 01 con chó màu nâu vàng trọng lượng 15kg; bắt của bà Trần Thị Tuyết M ở khu phố S, thị trấn VX 01 con chó màu đốm vàng trọng lượng 08kg; bắt 04 con chó khác không xác định được chủ sở hữu có tổng trọng lượng là 66kg. Xe mô tô hiệu Yamaha Exciter số máy G3D4E353213, số khung RLCUG0610GY336304 có biển số thật là 86B8 – 320.62 nhưng biển số thật đã bị mất, biển số 60B3 – 39971 là biển số giả, gắn vô xe nhằm mục đích đi trộm cắp tài sản. Xe mô tô là của H mua lại của người khác.
Bị hại Lê Thị M1, Trần Thị Tuyết M trình bày: Yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thiệt hại theo giá trong kết luận định giá tài sản.
Với những tình tiết nêu trên tại Cáo trạng số 85/CT-VKS-HS ngày 25/10/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức H, Trần Đức T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Quá trình chuẩn bị xét xử, bị cáo Trần Đức T đã tự nguyện bồi thường cho bà Lê Thị M1 số tiền 1.500.000 đồng, bồi thường cho bà Trần Thị Tuyết M số tiền 800.000 đồng. Các bị hại không yêu cầu bồi thường thêm về dân sự và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Trần Đức T.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Đức H, Trần Đức T thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến và nhất trí với kết luận định giá tài sản. Về số tiền đã bồi thường là tiền của bị cáo T và gia đình bị cáo H cùng bồi thường cho các bị hại. Bị cáo H đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại.
Đại diện VKSND huyện Đức Linh giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H, Trần Đức T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt:
+ Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H mức án từ 1 năm đến 1 năm 3 tháng tù.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trần Đức T mức án từ 9 tháng đến 1 năm tù.
- Về xử lý vật chứng:
+ 01 bao tải bên trong có 06 con chó đã chết có tổng trọng lượng là 89kg. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiêu hủy là phù hợp.
+ 01 ba lô màu đen bên trong có 01 máy chích điện tự chế gồm: 01 bình ắc quy loại 12V nối với 01 đoạn dây điện màu đen dài 1,1m có gắn trên 01 cây nhựa màu đen có 02 mũi nhọn dài 1,9m; 01 ba lô màu cam bên trong có 01 bình ắc quy loại 12V, 01 cây đèn pin. Đây là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu, tiêu hủy.
+ 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter gắn biển số 60B3 – 39971, có số máy G3D4E353213, số khung RLCUG0610GY336304 là tài sản của Nguyễn Đức H dùng vào việc phạm tội cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị về án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đã nhận ra lỗi lầm của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa, các bị hại vắng mặt nhưng đã có lời khai làm rõ trong hồ sơ vụ án, không yêu cầu bồi thường về dân sự, không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản ghi nhận sự việc; biên bản xác định vị trí, địa điểm; biên bản kiểm tra, xác định nơi sảy ra vụ việc; kết luận định giá tài sản; lời khai của bị hại và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở xác định:
Về hành vi phạm tội:
Khoảng 03 giờ ngày 08/6/2022, Nguyễn Đức H điều khiển xe mô tô 60B3 – 39971 của H, chở Trần Đức T mang theo dụng cụ máy chích điện chạy đến thị trấn VX, huyện Đ bắt trộm của bà Lê Thị M1 ở khu phố S, thị trấn VX 01 con chó trọng lượng 15 kg, bắt trộm của bà Trần Thị Tuyết M ở khu phố Z, thị trấn VX 01 con chó trọng lượng 08 kg. Tổng số chó trộm cắp của bà Mười và bà Mai trị giá 2.300.000 đồng. Ngoài ra, H và T còn trộm 04 con chó không xác định được chủ sở hữu có tổng trọng lượng là 66 kg trị giá 6.600.000 đồng. Tổng giá trị tài sản H và T chiếm đoạt trị giá là 8.900.000 đồng.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, xâm hại đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an địa phương. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của bản thân, biết được việc trộm cắp tài sản là trái pháp luật, sẽ bị trừng trị nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm.
Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người và đúng tội.
Xét vai trò các bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Các bị cáo Nguyễn Đức H và Trần Đức T cùng thống nhất thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhưng bị cáo H là người đã chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội nên mức án đối với bị cáo H phải nặng hơn.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường thiệt hại nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Riêng bị cáo T phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Về nhân thân: Bị cáo H có nhân thân xấu. Bị cáo T có nhân thân tốt.
Về hình phạt chính: Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo H ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích và phòng ngừa chung cho xã hội; Riêng bị cáo T có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương để giám sát, giáo dục bị cáo là phù hợp với quy định tại Điều 31 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, nhằm thể hiện tính nhân đạo và chính sách khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có công việc ổn định, không có tài sản nên không xem xét phạt tiền.
Về xử lý vật chứng:
+ 01 bao tải bên trong có 06 con chó đã chết có tổng trọng lượng là 89kg. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiêu hủy là phù hợp.
+ 01 ba lô màu đen bên trong có 01 máy chích điện tự chế gồm: 01 bình ắc quy loại 12V nối với 01 đoạn dây điện màu đen dài 1,1m có gắn trên 01 cây nhựa màu đen có 02 mũi nhọn dài 1,9m; 01 ba lô màu cam bên trong có 01 bình ắc quy loại 12V, 01 cây đèn pin. Đây là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu, tiêu hủy.
+ 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter (biển số thật là 86B8 – 320.62 nhưng đã bị mất), số máy G3D4E353213, số khung RLCUG0610GY336304 là tài sản của Nguyễn Đức H dùng vào việc phạm tội cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
+ 01 biển số 60B3 – 39971 là biển số giả cần tịch thu, tiêu hủy.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã được bồi thường và không yêu cầu bồi thường thêm về dân sự nên không xem xét buộc các bị cáo phải bồi thường.
Đối với bị cáo Nguyễn Đức H: Ngoài lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản này thì ngày 20/6/2021 bị cáo còn thực hiện hành vi “Cố ý gây thương tích” và bị Tòa án nhân dân huyện Đức Linh xử phạt 04 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành án, hiện chưa thi hành án. Cho nên cần tổng hợp với bản án này để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là phù hợp khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, áp dụng điều luật, hình phạt, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng là có căn cứ nên cần chấp nhận. Tuy nhiên, đối với bị cáo T có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về án phí: Các bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đức H, Trần Đức T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H 01 năm tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Tổng hợp với hình phạt 04 (Bốn) năm tù của bản án số 47/2022/HS-ST ngày 03/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh. Buộc bị cáo Nguyễn Đức H phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 05 (Năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 14/9/2022.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trần Đức T 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách là 1 năm 6 tháng, tính từ ngày tuyên án 06/12/2022.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân xã V để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 ba lô màu đen; 01 ba lô màu cam; 02 bình ắc quy loại 12V; 01 đoạn dây điện màu đen dài 1,1m có gắn trên 01 cây nhựa màu đen có 02 mũi nhọn dài 1,9m; 01 cây đèn pin; 01 biển số 60B3 – 39971.
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, có số máy G3D4E353213, số khung RLCUG0610GY336304.
(Các vật chứng trên đang lưu giữ tại chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 02/12/2022)
4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Buộc bị cáo Nguyễn Đức H, Trần Đức T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 06/12/2022). Bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Thuận; - VKSND tỉnh Bình Thuận; - VKSND huyện Đức Linh; - Cơ quan CSĐT công an huyện Đức Linh; - Nhà tạm giữ công an huyện Đức Linh; - Chi cục THADS huyện Đức Linh; - Bị cáo; Người tham gia tố tụng khác; - UBND xã V; - Lưu VP, HSVA./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Ngọc Nghĩa |