- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Ghi nhận việc thuận tình ly hôn giữa bà Tr.
- Căn cứ chính? Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 272 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T TỈNH L | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số : 88/2022/HNGĐ-ST Ngày: 29-12 -2022 V/v “Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T TỈNH L
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa:
Bà Phạm Thị Thanh Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Thuận
Ông Nguyễn Văn Sở
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Hà, Thư ký Tòa của Tòa án nhân dân thành phố T tỉnh L .
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T tỉnh L tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự “Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn”, thụ lý số 303/2022/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2022/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Tr. Th. D. K
Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1986
Địa chỉ: 14 Đường Huỳnh Hữu Thống Phường 3 thành phố T tỉnh L .
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Đức Huy, Công ty Luật TNHH Huy Phương, Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Ng. Q. H
Sinh ngày 29 tháng 8 năm 1989
Địa chỉ: ấp Nhơn Thuận xã Nhơn Thạnh Trung thành phố T tỉnh L
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và quá trình tố tung, nguyên đơn là bà Tr. Th. D. K trình bày: Sau hai năm tìm hiểu, bà và ông H kết hôn với nhau vào năm 2013. Vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến Khoảng năm 2020, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do không phù hợp về lối sống, ông H cho rằng bà có quan hệ với người khác và khi say, ông H còn có hành động bạo lực với bà. Thời gian đầu, vì thương con nên bà cố chịu đựng nhưng tình trạng hôn nhân của vợ chồng ngày càng trầm trọng. Việc ông H đánh bà, thậm chí dùng dao đe dọa đã làm cho con hoảng sợ. Do đó, bà đã không chung sống cùng ông H nữa mà đưa con ra thuê trọ. Tình cảm vợ chồng không còn và không thể để tình trạng mâu thuẫn như hiện nay nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông H.
Về con chung, bà và ông H có một người con chung, tên là Ng.Tr Ph.L, sinh ngày 29 tháng 4 năm 2014, bà có nguyện vọng trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Tại phiên hòa giải ngày 09 tháng 12 năm 2022, ông Ng. Q. H chấp nhận ly hôn vì không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng, bởi bà K đã có người khác. Ông đã cố gắng để giữ gia đình cho con nhưng bà K vẫn không chấm dứt quan hệ với người đàn ông đó. Gia đình và người thân bên vợ của ông cũng đã khuyên can nhưng không kết quả nên ông chấp nhận ly hôn. Tuy nhiên, ông không đồng ý giao con cho bà K vì bà K không thể nuôi dạy con trong hoàn cảnh luôn phải thay đổi chỗ ở vì vợ của người đàn ông đó đến đánh ghen. Điều này, tác động không tốt đến con. Hơn nữa, về điều kiện kinh tế, bà K không có điều kiện bằng ông. Trong trường hợp Tòa án chấp nhận để bà K trực tiếp nuôi con, ông sẽ cấp dưỡng nuôi con ông hàng tháng, mỗi tháng 5.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Tr. Th. D. K đề nghị ghi nhận việc thuận tình ly hôn giữa bà K và ông H; đề nghị giao con chung cho bà K trực tiếp nuôi vì bà K có thu nhập ổn định, có tham gia bảo hiểm nhân thọ với Tổng Công ty Bảo việt Nhân Thọ, là điều kiện để đảm bảo an toàn cho bé, bà K cũng có tài sản riêng là quyền sử dụng đất ở nông thôn. Do đó, bà K có đủ điều kiện để trực tiếp nuôi con chung. Hơn nữa, việc bà K trực tiếp nuôi con chung cũng phù hợp với nguyện vọng của Ph.L. Mặt khác, ông H cho rằng điều kiện và môi trường sống hiện tại làm cho con chung không phát triển bình thường là không đúng, căn cứ vào kết quả học tập của bé Ph.L, cho thấy bé vẫn học tập tốt, phát triển bình thường. Cần nói thêm là về khoảng cách địa lý, bên ngoại ở gần hơn so với bên nội nên có điều kiện hỗ trợ tốt hơn trong việc chăm sóc giáo dục Ph.L.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trong quá trình tố tụng.
Về nội dung, đề nghị ghi nhận việc thuận tình ly hôn giữa nguyên đơn và bị đơn, đề nghị giao con chung cho bà Diễm Kiều trực tiếp nuôi dưỡng vì con chung đang sống cùng bà K và vẫn phát triển bình thường và bé Ph.L cũng có nguyện vọng sống cùng mẹ. Bên cạnh đó, đề nghị giải quyết các vấn đề khác theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Bà Tr. Th. D. K và ông Ng. Q. H là vợ chồng. Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do không phù hợp về quan điểm sống và vì ông H cho rằng bà K có quan hệ với người khác nên dẫn đến tình trạng hôn nhân không hạnh phúc. Do đó, bà Tr. Th. D. K yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Ng. Q. H. Theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố T thụ lý và giải quyết vụ án.
Bà Tr. Th. D. K và ông Ng. Q. H xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 2013, nên áp dụng các quy định của Luật hôn nhân và gia đình (năm 2000) để giải quyết về nội dung, theo quy định tại Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình.
Về quan hệ hôn nhân, ông Ng. Q. H và bà Tr. Th. D. K thống nhất ly hôn nên Tòa án ghi nhận việc thuận tình ly hôn.
Về con chung, ông Ng. Q. H và bà Tr. Th. D. K có một người con chung, tên là Ng.Tr Ph.L, sinh ngày 29 tháng 4 năm 2014. Cả ông H và bà K đều có nguyện vọng trực tiếp nuôi con chung. Xét về điều kiện kinh tế, ông H và bà K đều có đủ điều kiện vật chất tối thiểu để trực tiếp nuôi con. Tuy nhiên, bé Ph.L có nguyện vọng được sống cùng với mẹ và hiện tại, bé đang sống cùng mẹ. Để đảm bảo sự ổn định về tâm lý cho bé thì việc để bà K trực tiếp nuôi con chung là phù hợp. Hơn nữa, mặc dù, ông H cho rằng bà K ngoại tình nên không thể trực tiếp nuôi con chung và việc nuôi con chung trong hoàn cảnh hiện tại của bà K không đảm bảo sự phát triển bình thường của con chung nhưng ông H không có chứng cứ chứng minh lời trình bày của mình mà trên thực tế bé Ng.Tr Ph.L vẫn học tập, rèn luyện tốt.
Về việc cấp dưỡng nuôi con chung, tại phiên tòa, ông Ng. Q. H trình bày là ông chỉ cấp dưỡng nuôi con theo quy định. Tuy nhiên, bà Tr. Th. D. K không yêu cầu cấp dưỡng nên ông H không phải cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung, do không có yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
Về án phí: Bà Tr. Th. D. K và ông Ng. Q. H phải chịu sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuy nhiên, theo hướng dẫn tại mục số 11 Công văn số 02/TANDTC-PC ngày 02 tháng 8 năm 2021 của Tòa án nhân dân Tối cao về việc giải đáp một số vướng mắc trong xét xử, bà Tr. Th. D. K và ông Ng. Q. H chịu án phí sơ thẩm là: 75.000 đồng
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 90, Điều 92, Điều 93 và Điều 94 Luật Hôn nhân và Gia đình (năm 2000), Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 272 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ghi nhận việc thuận tình ly hôn giữa bà Tr. Th. D. K và ông Ng. Q. H
Về con chung: Sau khi ly hôn, bà Tr. Th. D. K là người trực tiếp nuôi con chung, tên là Ng.Tr Ph.L, sinh ngày 29 tháng 4 năm 2014; ông Ng. Q. H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Ông Ng. Q. H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung; không ai được cản trở ông H thực hiện quyền này.
Vì lợi ích của con, một hoặc hai bên đương sự có quyền yêu cầu Tòa án quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con; yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định
Về án phí: Bà Tr. Th. D. K chịu án phí sơ thẩm là 75.000 đồng. Chuyển 75.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà K đã nộp (theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001905 ngày 22 tháng 11 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố T) thành án phí sơ thẩm. Hoàn trả cho bà Tr. Th. D. K 225.000 đồng; Ông Ng. Q. H chịu án phí sơ thẩm là 75.000 đồng.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa, các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: -Tòa án tỉnh -Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp -Chi cục thi hành án dân sự -Các đương sự -Lưu: VT, hồ sơ vụ án | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thanh Thảo |