vanban.org

Bản án 88/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Nguyễn Thị Hồng Th.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng Th được ly hôn với Ông Nguyễn Chí Th. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Bắc K, sinh ngày 24/02/2009 cho Bà Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Thị Hạnh Ng, sinh ngày 10/10/2010 cho Ông Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Không ai cấp dưỡng nuôi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Nguyễn Thị Hồng Th.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 31-8-2022
Về việc “Ly hôn,
tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quách Văn Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Đô

2. Bà Lê Thị Kiều Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Nhàn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ Thuận - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 335/2022/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 204/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/7/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 260/2022/QĐST-HNGĐ ngày 19/8/2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng Th, sinh năm 1988

Bị đơn: Ông Nguyễn Chí Th, sinh năm 1982

Cùng nơi cư trú: Thôn T, xã T, Tp P, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa có mặt Bà Th, vắng mặt Ông Th.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn Bà Nguyễn Thị Hồng Th trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Th và Ông Nguyễn Chí Th tự nguyện tìm hiểu, chung sống và có đăng ký kết hôn vào năm 2008 tại Uỷ ban nhân dân xã Thiện Nghiệp, Tp Phan Thiết.

Qúa trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng cùng lo làm ăn. Bắt đầu từ năm 2020 đến nay Ông Th thay đổi tính nết, vợ chồng không hòa thuận, thường xuyên cãi vã.

Nay Bà Th xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, vợ chồng không còn hạnh phúc và không thể hàn gắn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Về con chung: Bà Th khai giữa bà và Ông Th có 02 con chung tên Nguyễn Thị Bắc K, sinh ngày 24/02/2009 và Nguyễn Thị Hạnh Ng, sinh ngày 10/10/2010. Sau khi ly hôn, Bà Th yêu cầu được nuôi con tên Bắc K và đồng ý giao cho Ông Th nuôi con tên Hạnh Ng; không ai cấp dưỡng nuôi con cho ai.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Th không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phía bị đơn: Ông Nguyễn Chí Th đã được Tòa án triệu tập cũng như tống đạt nhiều lần các văn bản tố tụng nhưng đều từ chối nhận, cũng không đến Tòa án và cũng không trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của Bà Th.

Vụ án không hòa giải được do Ông Th không đến tòa và Bà Th có đơn đề nghị không tiến hành hào giải.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phát biểu ý kiến về việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng dân sự quy định. Bị đơn chấp hành chưa đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử, xử theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể: Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng Th được ly hôn với Ông Nguyễn Chí Th; Về con chung: Ông bà có 02 con chung tên Nguyễn Thị Bắc K, sinh ngày 24/02/2009 và Nguyễn Thị Hạnh Ng, sinh ngày 10/10/2010; giao cháu Bắc K cho Bà Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao cháu Hạnh Ng cho Ông Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Do không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị không xét; Về tài chung và nợ chung: Bà Th không yêu cầu giải quyết nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị Hồng Th yêu cầu ly hôn Ông Nguyễn Chí Th và yêu cầu giải quyết về nuôi con. Bị đơn Ông Nguyễn Chí Th có nơi cư trú tại thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Chí Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do; Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử xử vắng mặt Ông Th.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng Th và Ông Nguyễn Chí Th có đăng ký kết hôn theo Chứng nhận kết hôn số 70 ngày 19/11/2008 tại UBND xã Thiện Nghiệp, Tp Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận nên quan hệ hôn nhân của Ông Th và Bà Th là hợp pháp.

Lý do Bà Th yêu cầu ly hôn là do từ năm 2020 đến nay Ông Th thay đổi tính nết, vợ chồng không hòa thuận, thường xuyên cãi vã, đến nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, vợ chồng không còn hạnh phúc và không thể hàn gắn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Theo Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc; cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc gia đình”.

Tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được”.

Từ quy định được viện dẫn nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy Bà Th và Ông Th không còn thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc gia đình; Tòa án đã thông báo để hòa giải giữa hai bên nhưng Ông Th từ chối nhận văn bản của tòa, đồng thời không đến tòa để tham gia hòa giải; đồng thời Bà Th cũng đề nghị tòa không hòa giải giữa ông bà, nên đã vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng được quy định Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại phiên tòa hôm nay Ông Th vẫn không có mặt chứng tỏ ông đã khước từ quyền tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình.

Từ những nhận định trên, cho thấy yêu cầu ly hôn của Bà Th là chính đáng, phù hợp với quy định của pháp luật và đã thỏa mãn điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Bà Th khai giữa bà và Ông Th có 02 con chung tên Nguyễn Thị Bắc K, sinh ngày 24/02/2009 và Nguyễn Thị Hạnh Ng, sinh ngày 10/10/2010. Bà Th yêu cầu được nuôi con tên Bắc K và đồng ý giao cho Ông Th nuôi con tên Hạnh Ng. Hội đồng xét xử xét thấy: Việc giao con chung cho cha hay mẹ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trên cơ sở phải đảm bảo điều kiện để phát triển tốt nhất; trong vụ án này mặc dù Ông Th không có ý kiến về việc nuôi con nhưng việc nuôi con vừa là quyền, đồng thời cũng là nghĩa vụ, thể hiện trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái nên việc Bà Th yêu cầu được nuôi con tên Bắc K và đồng ý giao cho Ông Th nuôi con tên Hạnh Ng là phù hợp với quy định của pháp luật và yêu cầu này cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu Bắc K và cháu Hạnh Ng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hồng Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp Phan Thiết tại phiên tòa về quan điểm giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 19, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Luật thi hành án dân sự.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Nguyễn Thị Hồng Th.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng Th được ly hôn với Ông Nguyễn Chí Th.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Bắc K, sinh ngày 24/02/2009 cho Bà Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Thị Hạnh Ng, sinh ngày 10/10/2010 cho Ông Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Không ai cấp dưỡng nuôi con cho ai.

Bà Nguyễn Thị Hồng Th và Ông Nguyễn Chí Th có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn. Ông Th, Bà Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hồng Th phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình. Ngày 04/5/2022 Bà Th đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0009663 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết nay chuyển thành án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bà Nguyễn Thị Hồng Th có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Chí Th có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ