vanban.org

Bản án 88/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho chị Dương Thị N ly hôn với anh Trần Văn T.

Về nuôi con chung: Giao cháu Trần Minh Hạo, sinh ngày 01/01/2011 và cháu Trần Thị Bích Ngọc, sinh ngày 09/9/2014 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Anh T được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Chị N cùng các thành viên gia đình không được cản t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn và nuôi con Dương Thị N và Trần Văn T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Dương Thị N ly hôn với anh Trần Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 22-7-2022
V/v tranh chấp xin ly hôn và
giải quyết việc nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đoàn Thanh Thúy

2. Bà Hà Thị Kim Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thành Minh- Thư ký Tòa án nhân dân huyện H.

Ngày 22 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 153/2022/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2022 về tranh chấp xin ly hôn và giải quyết việc nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Dương Thị N, sinh năm 1989; địa chỉ: Tổ 24, khu phố S, thị trấn S, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

- Bị đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm: 1981; địa chỉ: Tổ 24, khu phố S, thị trấn S, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

Các đương sự vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 09/3/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Dương Thị N trình bày: Chị và anh Trần Văn T quen biết và thương yêu nhau, được hai bên gia đình chấp thuận cho tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn ngày 09/05/2011 tại UBND thị trấn S, huyện H, tỉnh Kiên Giang. Quá trình chung sống lúc đầu rất hạnh phúc, anh chị sinh được 02 người con là cháu Trần Minh Hạo, sinh ngày 01/01/2011 và cháu Trần Thị Bích Ngọc, sinh ngày 09/9/2014. Tuy nhiên, thời gian chung sống sau này, anh T không lo làm ăn, mê chơi, bỏ bê gia đình, không quan tâm đến vợ con, không phụ chị chăm sóc, nuôi dạy con cái. Chị có nhắc nhở thì vợ chồng xảy ra cãi vã. Chị cũng khuyên nhủ anh nhiều lần nhưng anh không sửa đổi. Đến nay, chị nhận thấy vợ chồng không thể hòa hợp sống chung được, có níu kéo cũng không hạnh phúc, nên chị làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh T. Về con chung, chị nhận nuôi hai con Trần Minh Hạo và Trấn Thị Bích Ngọc, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung, chị xác nhận anh chị không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai có xác nhận của UBND thị trấn S ngày 04/3/2022, bị đơn anh Trần Văn T trình bày: Anh và chị N là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn S, huyện H, tỉnh Kiên Giang ngày 09/05/2011. Quá trình chung sống anh chị có hai người con chung như chị N trình bày. Thời gian đầu anh chị chung sống rất hạnh phúc, tuy nhiên thời gian gần đây giữa anh và chị N thường xảy ra cự cãi, mặc dù được cha mẹ hai bên khuyên bảo nhiều lần nhưng anh, chị không duy trì được tình cảm vợ chồng, chung sống vui vẻ được vài ngày thì lại phát sinh mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng hơn. Do vợ chồng không có tiếng nói chung nên anh, chị đã sống ly thân hơn một năm nay. Anh xét thấy cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nên anh đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị N. Anh đồng ý giao hai cháu Trần Minh Hạo và Trần Thị Bích Ngọc cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, anh được quyền thăm nom, chăm sóc con chung và không phải cấp dưỡng nuôi con, tuy nhiên với trách nhiệm làm cha, anh có khả năng lo cho con bao nhiêu thì anh sẽ lo bấy nhiêu. Về tài sản chung và nợ chung, anh, chị tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho anh T, chị N nhưng anh, chị không có mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt, do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1, Điều 227 và khoản 1, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh T chung sống với nhau có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Sóc Sơn, huyện H tỉnh Kiên Giang ngày 09/05/2011, dó đó hôn nhân giữa anh chị là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Xét yêu cầu ly hôn của chị N, Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình chung sống vợ chồng, giữa chị N và anh T thiếu sự quan tâm, thương yêu và chăm sóc lẫn nhau, khiến cho cuộc sống hôn nhân rạn nứt, thời gian hơn một năm nay giữa vợ chồng thường xảy ra cự cãi, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên anh, chị đã sống ly thân, giữa chị N và anh T không còn tình cảm vợ chồng. Xét thấy cuộc hôn nhân của anh, chị không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào quy định tại khoản 1, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị N về việc cho chị ly hôn với anh T.

Về nuôi con chung: Quá trình chung sống vợ chồng, anh chị có hai con chung là cháu Trần Minh Hạo, sinh ngày 01/01/2011 và cháu Trần Thị Bích Ngọc, sinh ngày 09/9/2014. Từ khi anh chị sống ly thân, hai cháu sống cùng chị N, nay các cháu có nguyện vọng muốn ở với mẹ, chị N cũng tự nguyện nhận nuôi các con và được anh T đồng ý, xét nên giao hai cháu Trần Minh Hạo và Trần Thị Bích Ngọc cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 1 và khoản 2, Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Anh T được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Chị N cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các con.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T có ý kiến không cấp dưỡng nuôi con, chị N cũng không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị N và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn chị N yêu cầu ly hôn nên căn cứ theo quy định tại khoản 4, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị N phải có nghĩa vụ nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1, Điều 51, khoản 1, Điều 56 và khoản 2 và khoản 3, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho chị Dương Thị N ly hôn với anh Trần Văn T.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Trần Minh Hạo, sinh ngày 01/01/2011 và cháu Trần Thị Bích Ngọc, sinh ngày 09/9/2014 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Anh T được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Chị N cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các con.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi hai con Trần Minh Hạo và Trần Thị Bích Ngọc.

4. Về tài sản chung và nợ chung: Chị N, anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về án phí: Chị N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) và được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng chị N đã tạm nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0007801 ngày 06/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Kiên Giang. Như vậy, chị N đã nộp xong.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6. Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ