- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Căn cứ chính? Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC Quy định v…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 88/2022/HNGĐ-ST Ngày: 20-01-2022 V/v Tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Thủy Tiên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Nhanh.
2. Ông Phạm Văn Hễ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Nguyễn Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Thanh Bình– Kiểm sát viên.
Ngày 20/01/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 270/2020/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2020 về việc “Tranh chấp ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4970/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Châu Thu H, sinh năm 1996. (Có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: 19 Đường P, Phường M, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Ho A (A Ho), sinh năm 1991. (Vắng mặt)
Quốc tịch: Canada.
Địa chỉ: 82 X, Y, ON, L6Z 1R2, Canada.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 24/7/2020 và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là bà Châu Thu H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Ho A (A Ho) kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 54 ngày 23/4/2018. Sau khi kết hôn, ông Ho A (A Ho) trở về Canada sinh sống, làm việc và bà vẫn ở lại Việt Nam. Do xa cách địa lý nên tình cảm vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và không còn hòa hợp, bà và ông Ho A (A Ho) không có liên lạc để giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Bà xác nhận tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà đề nghị ly hôn với ông Ho A (A Ho). Về con chung: Không có. Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Không có. Vì bận việc, bà Châu Thu H yêu cầu được vắng mặt cho đến khi kết thúc vụ án. Bị đơn là ông Ho A (A Ho), trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý, hòa giải và xét xử vụ án thông qua thủ tục ủy thác tư pháp đến Cơ quan có thẩm quyền của Canada theo địa chỉ của bị đơn do nguyên đơn cung cấp. Đồng thời, yêu cầu ông Ho A (A Ho) có văn bản gửi Tòa án trình bày ý kiến về việc bà Châu Thu H khởi kiện yêu cầu ly hôn (theo hồ sơ ủy thác tư pháp số 1014/TTTPDS-TA30 ngày 15/12/2020). Ngày 24/02/2021, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có nhận được văn bản trình bày ý kiến của ông Ho A (A Ho) gửi qua đường bưu điện nhưng không đúng theo quy định của pháp luật. Ngày 04/02/2021, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhận được văn bản số 116/CH-BTP ngày 26/01/2021 về việc Bộ Tư pháp đã chuyển hồ sơ ủy thác tư pháp đến Bộ Tổng Chưởng lý Tòa án bang Ontario, Canada. Đến ngày mở phiên tòa, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không nhận được văn bản của Bộ Tư pháp về kết quả tống đạt văn bản cũng như không nhận được thêm lời khai, tài liệu, chứng cứ của ông Ho A (A Ho) và ông Ho A (A Ho) không có mặt. Ngày 01/10/2021, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã có Công văn số 741/TATP-TGĐVNCTN gửi Bộ Tư pháp với nội dung đề nghị Bộ Tư pháp thông báo kết quả ủy thác tư pháp đối với ông Ho A (A Ho), sinh năm 1991, quốc tịch Canada cư trú tại địa chỉ 82 X, Y, ON, L6Z 1R2, Canada. Tuy nhiên, đến ngày xét xử sơ thẩm Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không nhận được văn bản về kết quả thực hiện ủy thác tư pháp của Bộ Tư pháp; Ông Ho A (A Ho) cũng vắng mặt. Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về vụ án: Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo trình tự tố tụng của Bộ luật tố tụng dân sự quy định về địa vị tố tụng và đảm bảo quyền lợi cho các đương sự. Về nội dung: Kiểm sát viên phân tích yêu cầu của nguyên đơn xin ly hôn bị đơn là phù hợp và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Xét yêu cầu của nguyên đơn là bà Châu Thu H, Hội đồng xét xử nhận thấy bà H và ông Ho A (A Ho) kết hôn trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn. Vì vậy, căn cứ vào Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đây là hôn nhân hợp pháp, khi một trong các bên có yêu cầu ly hôn, Tòa án xem xét, giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.
Bị đơn hiện cư trú tại nước Canada nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35 và khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc xét xử vắng mặt đương sự trong vụ án:
Nguyên đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, yêu cầu cung cấp bản khai, thông báo ngày, giờ, địa điểm xét xử nhưng đến thời điểm xét xử Tòa án vẫn không nhận được phản hồi của bị đơn. Vì vậy căn cứ quy định tại Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 474, Khoản 4 và Khoản 5 Điều 477 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Xét yêu cầu của bà Châu Thu H yêu cầu ly hôn ông Ho A (A Ho), Hội đồng xét xử xét thấy: Qua lời trình bày của bà H (bà H cam kết chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời khai của bà) thì thực tế sau khi kết hôn hai bên phát sinh mâu thuẫn không thể giải quyết được. Từ khi kết hôn cho đến nay, bà H và ông Ho A (A Ho) không có quá trình chung sống lâu dài, do xa cách địa lý nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, hai bên chưa có sự gắn kết sâu đậm về tình cảm vợ chồng. Hiện nay, bà H và ông Ho A (A Ho) đang sinh sống ở hai nước khác nhau nên khả năng đoàn tụ không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà H yêu cầu ly hôn ông Ho A (A Ho) là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Bà Châu Thu H khai không có.
Tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Bà Châu Thu H khai không có.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho bà Châu Thu H ly hôn ông Ho A (A Ho) là phù hợp với thực tế nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí, chi phí tố tụng khác: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm bà Châu Thu H phải chịu theo quy định của pháp luật.
Về phí ủy thác tư pháp và các chi phí khác bà Châu Thu H chịu theo quy định pháp luật. [6] Về quyền kháng cáo: Bà Châu Thu H và ông Ho A (A Ho) có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, Điều 37, Điều 40, Điều 147, Điều 273, Điều 277, Điều 278, Điều 477 và Điều 479 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Áp dụng Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Căn cứ Thông tư 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 19/10/2016 quy định về trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự. Xử: 1. Chấp nhận yêu cầu của bà Châu Thu H. Quan hệ hôn nhân: Bà Châu Thu H được ly hôn ông Ho A (A Ho). Giấy chứng nhận kết hôn số 54 do Ủy ban nhân dân Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 23 tháng 4 năm 2018 cho bà Châu Thu H và ông Ho A (A Ho) không còn giá trị pháp lý. Con chung: Không có. Tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Không có. 2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Châu Thu H chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) được cấn trừ vào Biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2019/0092236 ngày 06/8/2020 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Châu Thu H đã nộp đủ tiền án phí. 3. Bà Châu Thu H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án. Đối với ông Ho A (A Ho) thời hạn kháng cáo bản án là 12 tháng kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - TAND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND cấp cao tại TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - Cục THADS TP.HCM; - UBND Quận N, TP.HCM; - Các đương sự; - Lưu: HS, VT.(Linh/20b) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Thị Thủy Tiên |