vanban.org

Bản án 88/2022/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Buộc ông Văn Bạc H trả cho bà Lại Thị D, số tiền 5.

Kể từ ngày bà Lại Thị D có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Văn Bạc H không thi hành xong khoản tiền trên, ông Văn Bạc H còn phải chịu thêm khoản tiền lãi phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả. Về án phí: Ông Văn Bạc H phải nộp số tiề… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "lại thị d"
  • Tòa quyết gì? Buộc ông Văn Bạc H trả cho bà Lại Thị D, số tiền 5.
  • Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2022/DS-ST
Ngày 15- 4 - 2022
V/v Tranh chấp hợp đồng góp hụi.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Trường Hận

2. Ông Duyên Văn Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Cẩm Hường - Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Ngày 15 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 45/2022/TLST-DS ngày 17 tháng 02 năm 2022 về việc tranh chấp hợp đồng góp hụi, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2022/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 3 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lại Thị D, sinh năm 1971 (có mặt).

- Bị đơn: Ông Văn Bạc H, sinh năm 1978 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Giao Vàm, xã Lợi An, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 22/10/2021, cùng các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Lại Thị D trình bày: Bà làm chủ hụi ở địa phương.

- Vào ngày 05/01/2019, bà có mở dây hụi loại hụi 1.000.000 đồng, hụi này có 17 chưng, mỗi tháng khui 01 kỳ. Ông Văn Bạc H tham gia 01 chưng, ông H hốt hụi vào ngày 05/8/2019, được số tiền 12.760.000 đồng; Hụi mãn vào ngày 05/5/2020. Ông H đóng hụi chết cho tôi đến ngày 25/12/2020 được 12 kỳ, còn lại 05 kỳ đến nay không đóng, 05 kỳ hụi chết số tiền 5.000.000 đồng.

Nay bà yêu cầu ông Văn bạc hón trả cho bà số tiền 5.000.000 đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần, bị đơn ông Văn Bạc H đều vắng mặt không có lý do chính đáng.

Tại phiên tòa bà D vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền: Do bị đơn ông Văn Bạc H có nơi cư trú tại ấp Giao Vàm, xã Lợi An, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau; nội dung tranh chấp: Nợ tiền hụi, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời đã ban hành Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải (02 lần), Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và tống đạt hợp lệ cho ông Văn Bạc H nhưng ông H đều vắng mặt không rõ lý do. Do đó, Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; Bộ luật tố tụng dân sự; xét xử vắng mặt ông H theo quy định. Ông H không xuất trình bất kỳ tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình nên phải chịu hậu quả về việc không đưa ra chứng cứ để chứng minh theo khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung tranh chấp: Theo bà D trình bày, bà có mở dây hụi ngày 05/01/2019, loại hụi 1.000.000 đồng, mỗi tháng khui 01 kỳ, hụi có 17 chưng. Ông H tham gia 01 chưng, đóng được 08 kỳ thì hốt hụi, được số tiền 12.760.000 đồng, có đóng hụi chết cho bà đến tháng 12/2020 thì ngưng đóng cho đến nay. Hụi mãn vào ngày 05/5/202, còn nợ lại 05 kỳ hụi chết, số tiền 5.000.000 đồng đến nay không trả. Do ông H đã vi phạm nghĩa vụ trong giao dịch hụi nên bà khởi kiện yêu cầu ông H trả số tiền trên.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tại phiên tòa, bà D vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc ông H trả cho bà, số tiền 5.000.000 đồng. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình; trong giai đoạn xét xử bà D có cung cấp cho Tòa án danh sách hụi viên của dây hụi ngày 05/01/2019 nêu trên và sổ theo dõi đóng hụi hàng tháng.

Xét, các bên giao dịch hụi giữa Đào với ông Văn Bạc H là thực tế có xảy ra. Mặc dù bị đơn vắng mặt nhưng đã nhận giấy mới của Tòa án và đã biết việc bà Lại Thị D khởi kiện đòi số tiền trên nhưng không có ý kiến gì phản hồi. Do đó, căn cứ vào danh sách hụi viên, sổ theo dõi đóng hụi hàng tháng là có cơ sở làm căn cứ chứng minh được quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1, khoản 2 và khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khẳng định về chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên được chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc ông Văn Bạc H phải chịu án phí dân sự có giá ngạch đối với số tiền mà nguyên đơn được chấp nhận; nguyên đơn không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 1, khoản 2 và khoản 4 Điều 91, Điều 93, Điều 95, Điều 98, Điều 99 khoản 3 Điều 144, Điều 147, Điều 196, Điều 205, khoản 1 Điều 207, Điều 208, Điều 210, khoản 1 Điều 220, Điều 266, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 471 của Bộ luật dân sự 2015; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Buộc ông Văn Bạc H trả cho bà Lại Thị D, số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).

Kể từ ngày bà Lại Thị D có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Văn Bạc H không thi hành xong khoản tiền trên, ông Văn Bạc H còn phải chịu thêm khoản tiền lãi phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.

2. Về án phí: Ông Văn Bạc H phải nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng); bà Lại Thị D không phải chịu án phí. Ngày 16/02/2022 bà D có dự nộp 300.000 đồng theo lai thu số 0004398 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời được nhận lại.

3. Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn được quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luât.

Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ