vanban.org

Bản án 88/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: chị Trần Thị Yến L được ly hôn với anh Nguyễn Vũ P.

Về con chung: giao con chung tên Nguyễn Trọng Ph, sinh ngày 24/01/2020 cho chị L tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh P có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được quyền ngăn cản. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trần Thị Yến L yêu cầu ly hôn và nuôi con với anh Nguyễn Vũ P"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: chị Trần Thị Yến L được ly hôn với anh Nguyễn Vũ P.
  • Căn cứ chính? Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHƯỚC LONG
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 28/10/2021
V/v tranh chấp ly hôn
và nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG – TỈNH BẠC LIÊU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lư Trường Lâm

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Phước

Bà Nguyễn Hồng Lành

Thư ký phiên tòa: Ông Danh Văn An – Thẩm phán Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Lý Thị Nhiên – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phước Long, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 71/2021/TLST- HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2021 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 172/2021/QĐXXST- HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Yến L, sinh năm 2000

Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện PL, tỉnh Bạc Liêu.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Vũ P, sinh năm 1998

Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện PL, tỉnh Bạc Liêu.

Chị L có đơn xét xử vắng mặt, anh P vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 12/3/2021, các lời khai tiếp theo có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị Yến L trình bày:

Về hôn nhân: chị L và anh Nguyễn Vũ P tổ chức đám cưới sống chung với nhau và đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật vào ngày 20/3/2018. Thời kỳ hôn nhân, anh P có quan hệ tình cảm với người khác, khiến cho chị L bị trầm cảm, dẫn đến phai nhạt tình cảm. Chị L và anh P đã ly thân từ tháng 3/2021 đến nay.

Chị L nhận thấy hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, cả hai không tìm được tiếng nói chung, từ đó dần phai nhạt tình cảm nên chị L yêu cầu ly hôn với anh P.

Về con chung: chị L và anh P có 01 con chung tên Nguyễn Trọng Ph, sinh ngày 24/01/2020, chị L trực tiếp nuôi dưỡng con chung từ ngày ly thân đến nay. Khi ly hôn, chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung và chị yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật.

Về tài sản chung: chị L xác định chị và anh P không có tài sản chung, không có nợ chung; khi ly hôn chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết thêm vấn đề nào khác.

Bị đơn anh Nguyễn Vũ P đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt khi Tòa án triệu tập làm việc và vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Do đó không ghi nhận được ý kiến của anh P đối với yêu cầu của chị L. Tòa án lập biên bản anh P vắng mặt hai lần tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đưa vụ án ra xét xử là phù hợp quy định pháp luật.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long trình bày quan điểm:

+ Về tố tụng: Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với đương sự: từ khi tham gia tố tụng đến nay, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Bị đơn vắng mặt tại phiên họp và phiên tòa là chưa chấp hành khoản 15, 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử quyết định cho chị L ly hôn với anh P, giao con chung tên Nguyễn Trọng Ph, sinh ngày 24/01/2020 cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng; buộc anh P cấp dưỡng nuôi con chung với mức 745.000đ/tháng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi; tài sản chung, nợ chung: do đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; sau khi nghe ý kiến phát biểu đề xuất của Kiểm sát viên, sau khi thảo luận, nghị án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Chị L yêu cầu ly hôn và anh P có địa chỉ thường trú tại huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phước Long theo quy định tại Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa hôm nay, chị L có đơn xin xét xử vắng mặt, anh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần tham dự phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị L và anh P là phù hợp quy định tại Điều 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: chị L và anh P tự nguyện sống chung với nhau và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Vì vậy, hôn nhân của chị L và anh P là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật công nhận và bảo vệ. Chị L yêu cầu ly hôn, Tòa án đã thông báo và tống đạt hợp lệ cho anh P thông báo thụ lý vụ án, thông báo mở phiên họp về việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh P vắng mặt không lý do. Anh P cũng không đến Tòa án làm việc nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh P đối với yêu cầu khởi kiện của chị L. Xét thấy hôn nhân cần dựa trên sự quan tâm, cùng nhau chia sẽ giữa hai người nhưng chị L và anh P đã không còn liên lạc với nhau, không còn sống chung. Từ ngày ly thân đến nay, chị L và anh P không hàn gắn được tình cảm. Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng anh P không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình về việc chị L yêu cầu ly hôn, cho thấy anh P có ý thức bỏ mặc mối quan hệ hôn nhân với chị L. Thấy rằng hôn nhân giữa chị L và anh P đã đến mức trầm trọng, các bên không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận cho chị L ly hôn với anh P là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.

Về con chung: chị L và anh P có con chung tên Nguyễn Trọng Ph, sinh ngày 24/01/2020. Chị L trực tiếp nuôi dưỡng con chung từ ngày ly thân đến nay. Tại thời điểm xét xử sơ thẩm, con chung dưới 36 tháng tuổi, trong độ tuổi này cháu đang học ăn, học nói nên cần sự bảo ban, dạy dỗ, chăm sóc trực tiếp từ người mẹ nhiều hơn so với người cha. Tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”. Trên cơ sở cân nhắc các điều kiện phát triển tốt nhất của con chưa thành niên, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung tên Nguyễn Trọng Ph, sinh ngày 24/01/2020 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Chị L đang nuôi con chung nên không buộc anh P có nghĩa vụ giao con cho chị L nuôi dưỡng. Anh P có quyền và nghĩa thăm nom con chung mà không ai được quyền ngăn cản.

Về cấp dưỡng: chị L yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật. Anh P vắng mặt nên không có ý kiến trình bày. Căn cứ khoản 2 Điều 82; Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về việc cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con nên yêu cầu của chị L yêu cầu anh P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là có cơ sở để chấp nhận. Xét thấy theo quy định pháp luật thì mức cấp dưỡng mỗi tháng không thấp hơn ½ tháng lương cơ sở, nghĩa là mức lương cơ sở 1.490.000 đồng/tháng, một phần hai của tháng lương cơ sở là 745.000đ. Buộc anh P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung tên Nguyễn Trọng Ph, sinh ngày 24/01/2020 với mức 745.000đ/tháng, kể từ ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung và nợ chung: đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Xét đề nghị của kiểm sát viên là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật nên được chấp nhận.

Về án phí: Án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình chị L phải nộp 300.000đ, chị L đã dự nộp 300.000đ tại biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004752 ngày 01/4/2021 được chuyển thu án phí.

Án phí cấp dưỡng buộc anh P nộp 300.000đ.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 5, 28, 35, 39, 147, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào các Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 110 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: chị Trần Thị Yến L được ly hôn với anh Nguyễn Vũ P.

2. Về con chung: giao con chung tên Nguyễn Trọng Ph, sinh ngày 24/01/2020 cho chị L tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Anh P có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được quyền ngăn cản.

3. Về cấp dưỡng: Buộc anh P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung tên Nguyễn Trọng Ph, sinh ngày 24/01/2020 với mức 745.000đ/tháng, kể từ ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

4. Về tài sản chung: đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

5. Về án phí: Án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình chị L phải nộp 300.000đ, chị L đã dự nộp 300.000đ tại biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004752 ngày 01/4/2021 được chuyển thu án phí.

Án phí cấp dưỡng buộc anh P nộp 300.000đ.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

6. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ