vanban.org

Bản án 88/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thu V.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu V được quyền ly hôn với ông Trần Duy K. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thu V.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 26/01/2021
V/v: “Tranh chấp về ly hôn”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Hương.

- Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Huỳnh Thị Huế;

2. Ông Huỳnh Văn Bé.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Trang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hải Dương – Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 01 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 1258/2020/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2020 về việc: “Tranh chấp về ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu V, sinh năm 1977 (có mặt).

Địa chỉ: Số 39 đường Trần Thị X, tổ 6, ấp B, xã N, huyện C, Thành phố H.

- Bị đơn: Ông Trần Duy K, sinh năm 1983 (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Số 46/7 tổ 43, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo Đơn xin ly hôn ngày 10/10/2020 và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu V trình bày sự việc như sau:

Bà (Nguyễn Thị Thu V) và ông Trần Duy K kết hôn năm 2015, có đăng ký kết hôn, Giấy chứng nhận kết hôn số 49, quyển số 1/2015 ngày 11/3/2015 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện C cấp.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau tại nhà vợ ở xã N, huyện C. Vợ chồng có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nên năm 2016, ông K bỏ về xã P, huyện C sống và không hề liên lạc với bà, cũng không ghé thăm con. Vợ chồng bà chính thức sống ly thân đến nay gần 05 năm.

- 1 -

Vì tình cảm vợ chồng không còn, sống xa nhau đã lâu, không thể hàn gắn được nữa nên bà xin được ly hôn với ông K.

Về con chung: Vợ chồng bà có 01 con chung tên Trần Duy P, sinh ngày 29/10/2015, hiện con chung đang sống với bà. Khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có.

Về nghĩa vụ dân sự chung: Không có.

- Trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Trần Duy K không có mặt nên không có lời khai của ông K.

* Đại diện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án cũng như Hội đồng xét xử sơ thẩm và Thư ký tại phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu V.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu V được quyền ly hôn với ông Trần Duy K.

Về con chung: Giao trẻ Trần Duy P, sinh ngày 29/10/2015 cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng; công nhận sự tự nguyện của bà V về việc không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Đương sự khai không có.

- 2 -

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Đây là vụ kiện: “Tranh chấp về ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại phiên tòa, không có mặt bị đơn ông Trần Duy K nhưng ông K có đơn xin vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông K.

Về nội dung:

Xét yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu V về việc yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Trần Duy K, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về quan hệ hôn nhân:

Bà Nguyễn Thị Thu V và ông Trần Duy K kết hôn năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, Giấy chứng nhận kết hôn số 49, quyển số 1/2015 ngày 11/3/2015 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện C cấp, nên là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật thừa nhận.

Tại phiên tòa, bà V cho rằng quá trình chung sống giữa bà V và ông K phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nên năm 2016, ông K bỏ về xã P, huyện C sống và không hề liên lạc với bà, cũng không ghé thăm con. Vợ chồng bà chính thức sống ly thân đến nay gần 05 năm. Vì tình cảm vợ chồng không còn, sống xa nhau đã lâu, không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên bà xin được ly hôn với ông K.

Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ sống chung với nhau, thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, tạo dựng hạnh phúc gia đình, nhưng cuộc sống vợ chồng giữa bà V và ông K có nhiều mâu thuẫn, sống ly thân đến nay gần 05 năm. Tại phiên tòa, bà V vẫn cương quyết xin ly hôn với ông K vì không còn tình cảm vợ chồng, không thể hàn gắn được nữa.

Do hôn nhân giữa bà V và ông K không còn hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu bà V là có cơ sở.

- Về con chung:

Bà V và ông K có 01 con chung tên Trần Duy P, sinh ngày 29/10/2015, hiện con chung đang sống với bà V. Khi ly hôn, bà V yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con.

- 3 -

Xét thấy, do trẻ P hiện nay đang sống ổn định với bà V nên Hội đồng xét xử quyết định giao trẻ Phước cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp.

Bà V không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi trẻ P, xét thấy đây là sự tự nguyện của đương sự, Hội đồng xét xử ghi nhận.

Cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông K được quyền thăm con, không ai được cản trở.

- Tài sản chung:

Bà V khai không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xét.

- Về nghĩa vụ dân sự chung:

Bà V khai không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xét.

Từ sự phân tích trên, xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi là phù hợp.

Về án phí:

Bà V phải nộp tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/10/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 81, khoản 1 Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ Điều 6, 7, 26, 30, 31, 32 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thu V.

- Về quan hệ hôn nhân:

Bà Nguyễn Thị Thu V được quyền ly hôn với ông Trần Duy K.

Giấy chứng nhận kết hôn số 49, quyển số 1/2015 ngày 11/3/2015 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện C cấp cho bà V và ông K không còn giá trị pháp lý.

- 4 -

- Về con chung:

Giao trẻ Trần Duy P, sinh ngày 29/10/2015 cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng.

Công nhận sự tự nguyện của bà V về việc không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con.

Cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông K được quyền thăm con, không ai được cản trở.

- Về tài sản chung:

Bà V khai không có tài sản chung.

- Về nghĩa vụ dân sự chung:

Bà V khai không có nghĩa vụ dân sự chung.

2. Về án phí:

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm buộc bà V phải nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0084954 ngày 30/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi. Bà V đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Về quyền kháng cáo:

Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.

Cỡ chữ