vanban.org

Bản án 88/2020/HSST — Hình sự

TAND Q. Thốt Nốt, TP. Cần Thơ Tuyên án 01/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo Ngô Minh T về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định t…"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! !!!!!!!!! CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
QUẬN!THỐT!NỐT
!!!!!!!TP.!CẦN!THƠ!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số bản án: 88/2020/HSST
Ngày: 01/9/2020.

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM! TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!!QUẬN!THỐT!NỐT!-!THÀNH!PHỐ!CẦN!THƠ! Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Ngọc Hạnh. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hữu Đức 2. Ông Nguyễn Văn Đông!

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Xa!- Kiểm sát viên. Ngày 01 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 87/2020/HSST ngày 17 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2020/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ đối với bị cáo: Ngô!Minh!T!(Buôi)!– Sinh năm: 1989; Nơi cư trú: Khu vực A, phường B, quận C, thành phố Cần Thơ; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 04/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông: Ngô Văn L - sinh năm: 1970 (sống) và bà: Võ Thị D– sinh năm: 1972 (sống); Vợ: Phan Thị Kim T1 – sinh năm: 1991 (đã ly hôn); Có 01 người con tên Ngô Minh T2– sinh năm: 2010; Tiền án: Ngày 21/11/2017, bị Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ, xử phạt 10 tháng tù giam về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, chấp hành xong hình phạt tù từ ngày 05/6/2018, nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm ngày 13/7/2020, chưa chấp hành nộp tiền thu lợi bất chính; Tiền sự: Ngày 20/5/2020, bị UBND phường Thuận Hưng, ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường, với thời hạn là 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

1

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/7/2020 cho đến nay.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông!Nguyễn!Văn!D1!– sinh năm: 1968 (Vắng mặt) Địa chỉ: khu vực A, phường B, quận C, thành phố Cần Thơ.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 21 giờ ngày 05/7/2020, để có ma túy sử dụng bị cáo Ngô Minh T mượn xe đạp của ông Nguyễn Văn D1 (là người quen hàng xóm của bị cáo) chạy đến cầu Bà Quế thuộc khu vực A, phường B, quận C, gặp một người thanh niên tên Toàn Nũng (không rõ họ tên, địa chỉ) hỏi mua 200.000đồng ma túy thì người này đồng ý bán (theo bị cáo T khai để có ma túy sử dụng bị cáo thường mua của một người phụ nữ không rõ họ tên, địa chỉ ở khu vực lộ tẻ cầu Cái Sắn và một người tên Toàn Nũng), sau khi mua được ma túy, T cầm gói ma túy trên tay rồi chạy xe về để tìm nơi sử dụng. Đến 22 giờ 10 phút cùng ngày, khi T về đến nhà thuộc khu vực A, phường B, quận C thì bị lực lượng Chức năng phát hiện khám xét khẩn cấp người và phương tiện thu giữ, tang vật gồm:

- 01 gói nilon không màu, hàn kín, bên trong có chứa tinh thể không màu;

- 01 chiếc xe đạp;

- 01 điện thoại di động hiệu HUAWEI màu trắng, màn hình bị bể. Tại Kết luận giám định số 268/KL-PC09(Hóa) ngày 13/7/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Cần Thơ, kết luận: Tinh thể không màu trong 02 gói nilon gửi giám định là ma túy, khối lượng 0,2134 gam, loại Methamphetamine. Đối với chiếc xe đạp, quá trình điều tra xác định thuộc quyền sở hữu của anh Nguyễn Văn D1 cho T mượn, anh D1 không biết việc T sử dụng xe của mình vào việc phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Thốt Nốt, đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh D1. Đối với người phụ nữ và người thanh niên tên Toàn Nũng đã bán ma túy cho bị cáo T, do T khai không biết rõ họ tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh làm rõ nếu có căn cứ sẽ xem xét xử lý sau.

2

Tại cáo trạng số 91/CT-VKS ngày 17/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo Ngô Minh T về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 250 Bộ luật hình sự. Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố, không bổ sung gì thêm, đồng thời đề nghị: Về trách nhiệm hình sự: Tuyên xử: Bị cáo Ngô Minh T phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”;

- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Ngô Minh T từ 03 năm đến 04 năm tù. Về hình phạt bổ sung: Đề nghị miễn cho bị cáo do nghề nghiệp không ổn định. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong số 268/KL-PC09 ngày 13/7/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ có trọng lượng Methamphetamine còn lại sau giám định;

- Đề nghị trả lại cho bị cáo Ngô Minh T 01 điện thoại di động hiệu HUAWEI màu trắng, màn hình bị bể do không liên quan đến việc phạm tội;

- Chiếc xe đạp của ông Nguyễn Văn D1 do bị cáo T sử dụng để phạm tội nhưng ông D1 không biết, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là ông D1 nên đề nghị công nhận. Đối với đối tượng người phụ nữ và người thanh niên tên Toàn Nũng có hành vi bán ma túy cho bị cáo do chưa tiến hành làm việc được nên Cơ quan Cảnh sát điều tra sẽ tiếp tục xác minh làm rõ nếu có cơ sở xem xét xử lý sau. Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thống nhất với cáo trạng và đề nghị của Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo rất ăn năn hối cải, cam kết không tái phạm, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ:!

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:!

3

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an quận Thốt Nốt, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có người nào khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp. [2] Trong điều tra và qua thẩm tra, đối chất tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo cơ bản phù hợp nhau, phù hợp với các chứng cứ như các biên bản về hoạt động điều tra, biên bản ghi lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, v.v… Như vậy, có cơ sở xác định bị cáo Ngô Minh T là người nghiện ma túy và theo lời khai của bị cáo đã nhiều lần mua ma túy để sử dụng và vào khoảng 21 giờ ngày 05/7/2020, bị cáo T chạy xe đạp đến cầu Bà Quế thuộc khu vực A, phường B, quận C để gặp trực tiếp người thanh niên tên Toàn Nũng (theo bị cáo trình bày không rõ họ, tên địa chỉ) để mua 200.000đồng ma túy. Sau khi mua ma túy T chạy xe đạp vận chuyển ma túy đi về đến khu vực A, phường B, quận C thì bị lực lượng chức năng kiểm tra bắt quả tang. Tại kết luận giám định số 268/KL-PC09 ngày 13/7/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Cần Thơ kết luật: Tinh thể không màu trong 01 gói nilon gửi giám định là ma túy, khối 0,2134 gram, loại Methamphetamine. Hành vi do bị cáo thực hiện đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy và trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Hành vi đó đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 250 Bộ luật hình sự, việc đưa ra truy tố và xét xử bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội. Xét bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, có đầy đủ sức khỏe để nhận thức và điều khiển hành vi của mình, bị cáo đã bị Ủy ban nhân dân phường Thuận Hưng ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Lẽ ra, bị cáo phải nhận thức được tác hại của chất ma tuý và biết được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn mua ma túy và vận chuyển trái phép chất ma túy để sử dụng. Sử dụng ma túy không những gây nguy hại đến bản thân người sử dụng mà còn tác động xấu đến xã hội, nhất là trong tình hình hiện nay có nhiều người nghiện ma túy và tội phạm về ma túy ngày càng phổ biến. Tác hại của chất ma tuý không chỉ gây ra sự nghiện ngập, ảnh hưởng đến sức khỏe, tiền bạc mà còn hủy hoại hạnh phúc gia đình, làm băng hoại thế hệ

4

trẻ, nguy hiểm hơn là nguy cơ dẫn đến các tội phạm khác vì để có đủ tiền mua ma túy sử dụng thỏa mãn cơn nghiện, không ít người đã lâm vào con đường phạm pháp như trộm cắp, cướp giật, thậm chí là giết người. Hơn nữa, bị cáo đã từng bị kết án (chưa được xóa án tích) lại phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy nên bị cáo phải gánh chịu tình tiết tăng nặng tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy phải có hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nhằm để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, khi lượng hình xét thấy trong điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, vì vậy Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo. [3] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 250 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo T, không có nghề nghiệp ổn định, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo là có cơ sở. [4] Về xử lý vật chứng và các vấn đề khác: Theo như nhận định và đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là phù hợp. [5] Bị cáo Ngô Minh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Đối với đối tượng người phụ nữ và người thanh niên tên Toàn Nũng có hành vi bán ma túy cho bị cáo do chưa tiến hành làm việc được nên Cơ quan Cảnh sát điều tra sẽ tiếp tục xác minh làm rõ nếu có cơ sở xem xét xử lý sau. Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH:!

Tuyên!xử: Bị cáo Ngô Minh T phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”

- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự:

- Xử phạt bị cáo Ngô Minh T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 05/7/2020.! Hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo.

5

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong số 268/KL-PC09 ngày 13/7/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ có trọng lượng Methamphetamine còn lại sau giám định.

- Trả lại cho bị cáo Ngô Minh T 01 điện thoại di động hiệu HUAWEI màu trắng, màn hình bị bể;

- Công nhận Cơ quan điều tra đã trả lại 01 chiếc xe đạp cho chủ sở hữu ông Nguyễn Văn D1. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội . Bị cáo Ngô Minh T phải nộp số tiền 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ. Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự. !!!!!!Nơi nhận:

Cỡ chữ