- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tran Thi Huyen (LĐTS) - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 88/2020/HS-PT Ngày: 10 - 9 -2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Bỉnh
- Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Hữu Hồng
Ông Nguyễn Kim Đồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hương Trang – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Đào - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 86/2020/TLPT-HS ngày 02 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo Trần Thị H do có kháng cáo của bị cáo H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2020/HS-ST ngày 25/5/2020 của Tòa án nhân dân thành phố ĐL.
- Bị cáo có kháng cáo: Trần Thị H, sinh ngày 19 tháng 6 năm 1981; nơi sinh: Nghệ An; nơi cư trú: Xóm 5, xã LS, huyện AS, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh H1 (chết) và bà Trần Thị Ph (tên gọi khác: Trần Thị M), sinh năm: 1934; cH: Ngô Sỹ Thùy A, sinh năm 1980 (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/10/2019, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố ĐL. Có mặt.
Trong vụ án còn có bị hại không kháng cáo, không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 06/10/2019, Trần Thị H từ Nghệ An vào thành phố ĐL du lịch và thuê khách sạn AN ở đường Tô Hiến Thành, phường 3, thành phố ĐL để ở. Khoảng 14 giờ 00 ngày 08/10/2019, H uống cà phê cùng với bạn tên H tại quán cà phê Bích Câu, một lúc sau có chị Huỳnh Lê Minh Th là bạn của chị H đến ngồi cùng. Trong lúc nói chuyện, chị Th đề cập đến công việc của mình là giáo viên tại một trường ở huyện ĐD, tỉnh Lâm Đồng, hàng ngày phải đi làm cách nhà 40km thì H hỏi lý do vì sao chị Th không xin chuyển công tác về thành phố ĐL cho gần nhà, chị Th nói đã xin chuyển công tác nhiều lần nhưng không được. Nghe vậy, H liền nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của chị Th. Thực hiện ý định, H nói mình công tác tại thanh tra Bộ Y tế và có quen với một người bạn tên Lương Thị Bích Th1 làm ở phòng Tổ chức cán bộ của Sở giáo dục và Đào tạo tỉnh Lâm Đồng, để H hỏi về việc xin chuyển trường giúp chị Th (thực chất thì H không hề quen bết ai tên Lương Thị Bích Th1 làm ở phòng Tổ chức cán bộ
- Sở giáo dục và Đào tạo tỉnh Lâm Đồng). Để tạo sự tin tưởng, H lấy điện thoại ra nói với chị Th là sẽ gọi cho bà Th1 làm ở phòng Tổ chức cán bộ - Sở giáo dục và Đào tạo tỉnh Lâm Đồng để hỏi xin chuyển trường cho chị Minh Th nhưng thực chất H không gọi cho ai tên Thủy. Sau đó, H nói với chị Minh Th là đã làm việc xong với bà Th1 ở Sở giáo dục và Đào tạo Lâm Đồng và bà Th1 đã đồng ý nhận hồ sơ của chị Minh Th. Ngày 09/10/2019, H gọi điện thoại cho chị Minh Th báo giá tiền để chuyển trường về thành phố ĐL là 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng thì chị Minh Th đồng ý, H hẹn chị Minh Th đến quán cà phê Doha ở Quảng trường Lâm Viên, phường 10, thành phố ĐL. Tại đây, chị Minh Th đã đưa cho H số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng để đặt cọc trước.
Ngày 13/10/2019, chị Minh Th đến gặp H tại khách sạn AN. Tại đây, để tiếp tục chiếm đoạt tài sản, H nói với chị Minh Th xem ai có nhu cầu chuyển về dạy ở thành phố ĐL thì giới thiệu cho H. Nghe vậy, chị Minh Th có nói với hai người bạn là chị Hà Thị Lâm M1 và anh Dương Thái H2 cũng đang dạy học ở huyện và đang có nhu cầu xin chuyển về thành phố ĐL. H nói với chị Minh Th giá chuyển trường của mỗi bộ hồ sơ này là 80.000.000 (tám mươi triệu) đồng, đặt cọc trước 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng, chị Th gọi điện thoại cho chị M1 và anh H2 trao đổi thì chị M1 và anh H2 đồng ý. Ngày 18/10/2019, chị Minh Th nhận của chị M1 và anh H2 mỗi người 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng cùng hai bộ hồ sơ, sau đó mang đến đưa cho H tại khách sạn AN. Ngày 19/10/2019, chị Minh Th xác minh lại thông tin thì được biết không có người nào tên Lương Thị Bích Th1 làm việc tại Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lâm Đồng, chị Minh Th nghi ngờ mình bị H lừa đảo nên đến cơ quan Công an trình báo.
Các bị hại: Chị Huỳnh Lê Minh Th bị chiếm đoạt số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng; chị Hà Thị Lâm M1 bị chiếm đoạt số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng; anh Dương Thái H2 bị chiếm đoạt số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng. Quá trình điều tra, chị Huỳnh Lê Minh Th đã tự nguyện trả cho chị M1 số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng và trả cho anh H2 số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Minh Th số tiền 75.000.000 (bảy mươi lăm triệu) đồng thu giữ của bị cáo H, chị Minh Th yêu cầu bị cáo bồi thường tiếp số tiền còn lại 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng và trả cho chị Th số tiền 7.000.000 (bảy triệu) đồng bị cáo H mượn riêng của chị Th.
Tang vật thu giữ: 03 bộ hồ sơ mang tên Huỳnh Lê Minh Th, Hà Thị Lâm M1, Dương Thái H2 được đựng trong một phong bì có đóng dấu đỏ niêm phong của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố ĐL được lưu tại hồ sơ vụ án; Số tiền 75.000.000 (bảy mươi lăm triệu) đồng, bị cáo khai đây là tiền mà bị cáo đã nhận của chị Minh Th; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A50 màu trắng, có ốp lưng màu đen; 01 sợi dây cH bằng kim loại màu vàng, mặt dây cH bằng kim loại màu vàng hình tròn; 03 lắc tay bằng kim loại màu vàng; 02 nhẫn bằng kim loại màu vàng; 01 ví da màu đen kích thước 20cm x 10cm; 01 giỏ xách màu đen kích thước 2cm x 15cm.
Cáo trạng số 50/CT-VKS ngày 15/4/2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Trần Thị H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại bản án số 47/2020/HS-ST ngày 25/5/2020 của Tòa án nhân dân thành phố ĐL đã xử;
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự: Xử phạt Trần Thị H 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/10/2019.
Ngoài ra bản án còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo.
* Ngày 05/6/2020 bị cáo H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa hôm nay,
Bị cáo giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không oan và không thắc mắc, khiếu nại bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu ý kiến: Căn cứ Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Căn cứ lời khai của bị cáo; lời khai của người bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Vì mục đích tư lợi cá nhân, bị cáo Trần Thị H đã đưa ra thông tin và dùng thủ đoạn gian dối để chị Huỳnh Lê Minh Th tin tưởng bị cáo có quen biết với người có thẩm quyền và có thể xin chuyển công tác cho chị Huỳnh Lê Minh Th, chị Hà Thị Lâm M1 và anh Dương Thái H2 để hai lần chiếm đoạt của chị Th, chị M1 và anh H2 với tổng số tiền là 90.000.000 đồng. Với hành vi trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội“Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt:
Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trị án. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo trình bày gia đình bị cáo có công với cách mạng nhưng không cung cấp tài liệu chứng cứ, chứng minh, do đó không có tình tiết giảm nhẹ nào mới. Mức án tại bản án sơ thẩm là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, giữ nguyên hình phạt tại bản án sơ thẩm, mới đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung với xã hội.
Từ những phân tích trên thấy rằng, không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm như đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị là phù hợp.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị H, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Xử:
1.Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự: Xử phạt Trần Thị H 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/10/2019.
3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01); - Vụ GĐKT I – TANDTC (01); - Phòng KTNV&THA (02); - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng (01); - TAND Tp. ĐL (02); - VKSND Tp. ĐL (01); - Cơ quan CSĐT CA Tp. ĐL (01); - Cơ quan THAHS CA Tp. ĐL (01); - Phòng PV 27 CA tỉnh Lâm Đồng (01); - Bị cáo (01); - Hồ sơ THAHS (04); - Lưu hồ sơ; Án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Văn Bỉnh |