vanban.org

Bản án 88/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về hôn nhân: Tuyên xử: Chị Nguyễn Thị Bình được ly hôn với anh Đinh Văn Cầm.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN ND TP VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU
Bản án số: 88 /2020/HNGĐ- ST
Ngày: 23-9-2020
Về việc: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP VŨNG TÀU

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Hồng Phúc

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Văn Dũng

Ông Nguyễn Đắc Liệt

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Lan Hương là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hiên - Kiểm sát viên.

Ngày 23-9-2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 497/2020/TLST - HNGĐ ngày 23 tháng 6 năm 2020, về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 118/QĐST- XX ngày 11 tháng 9 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bình - sinh năm: 1973.

Địa chỉ: 844 - đường Bình Giã, phường Rạch Dừa, thành phố Vũng Tàu( có đơn xin vắng mặt).

- Bị đơn : Anh Đinh Văn Cầm - sinh năm: 1975

Địa chỉ: 290/22/ 9 A - đường Nguyễn Hữu Cảnh, phường Thắng Nhất, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và quá trình làm việc tại Tòa, chị Nguyễn Thị Bình có những yêu cầu sau:

Chị Nguyễn Thị Bình và anh Đinh Văn Cầm đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Thắng nhất, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa

- Vũng Tàu vào năm 2013, trên cơ sở tự nguyện.

Sau khi kết hôn vợ chồng chị Bình, anh Cầm sinh sống tại số 290/22/ 9 A -đường Nguyễn Hữu Cảnh, phường Thắng Nhất, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Chị Bình cho biết từ khi sống chung cuộc sống hôn nhân không được hạnh phúc, anh Cầm thường xuyên có hành vi bạo hành đối với chị Bình và tới tháng 02 năm 2019, anh Cầm đánh đuổi chị Bình ra khỏi nhà. Chị Bình và anh Cầm sống ly thân từ đó đến nay.

Nay chị Bình cho rằng tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với anh Đinh Văn Cầm - sinh năm 1975.

Về con chung: Chị Bình, anh Cầm không có con chung.Về tài sản chung, nợ chung không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nguyên đơn chị Bình có đơn xin Tòa án xét xử vắng mặt.

Bị đơn anh Đinh Văn Cầm trình bày: Anh Cầm xác nhận điều kiện kết hôn và mâu thuẫn như chị Bình trình bày là đúng. Trong cuộc sống hôn nhân do bất đồng quan điểm sống nên anh Cầm và chị Bình đã sống ly thân. Nay chị Bình yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn anh Cầm đồng ý; nhưng yêu cầu chị Bình phải trả lại giấy tờ là sổ tiết kiệm và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh Cầm tại phường Kim Dinh, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu, theo anh Cầm hiện chị Bình đang giữ của anh Cầm. Về con: Không có con chung không yêu cầu nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu phát biểu ý kiến:

[1]Về tố tụng: Thẩm phán đã chấp hành và thực hiện đúng nhiệm vụ quyền hạn quy định tại điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tại phiên Tòa thư ký và hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định tại điều 51, 63 BLTTDS. Quá trình xét xử tuân thủ đúng trình tự quy định tại các ; điểm a khoản 1 điều 238, điều 239, 248, 249, 251 và 260 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Đối với nguyên đơn chị Bình đã chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70,71,228, điểm a khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Cầm đã chấp hành theo quy định của pháp luật quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 56,57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Bình. Chị Bình được ly hôn với anh Cầm.

Về con: Không có con chung không yêu cầu nên không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại Tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Bình và anh Đinh Văn Cầm. Bị đơn anh Cầm có hộ khẩu thường trú và hiện cư trú 290/22/ 9 A - đường Nguyễn Hữu Cảnh, phường Thắng Nhất, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu, do đó vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu; căn cứ khoản 1 điều 28, điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bình có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bình.

Về nội dung:

[2] Ngày 28-01-2013, chị Nguyễn Thị Bình và anh Đinh Văn Cầm có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Thắng Nhất, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, nên hôn nhân giữa chị Bình, anh Cầm là đúng quy định của pháp luật.

Chị Bình cho rằng cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc vì không có con chung và trong cuộc sống gia đình anh Cầm thường xuyên có hành động bạo hành đối với chị Bình. Năm 2019 anh Cầm đánh đuổi chị Bình ra khỏi nhà, chị Bình và anh Cầm ly thân từ tháng 02 năm 2019 cho đến nay.

Nay chị Bình xác định tình cảm không còn, giữa hai vợ chồng chưa có con chung, tài sản chung yêu cầu tòa án giải quyết cho chị Bình được ly hôn với anh Cầm.

Qua việc xác nhận của nguyên đơn chị Bình và bị đơn anh Cầm về mâu thuẫn gia đình giữa chị Bình và anh Cầm là có thật, thể hiện chị Bình, anh Cầm đã sống ly thân nhau từ năm 2019 cho đến nay.

[3] Nhận định của Hội đồng xét xử: Mâu thuẫn giữa vợ chồng chị Bình và anh Cầm là có thật đúng như chị Bình, anh Cầm cho biết. Thực tế chị Bình và anh Cầm đã sống ly thân nhau từ năm 2019, cho đến nay. Từ khi ly thân cho đến nay chị Bình, anh Cầm cũng không liên lạc hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Xét thấy:Cuộc sống hôn nhân của chị Bình, anh Cầm đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân giữa không đạt được; anh Cầm đồng ý ly hôn và có ý kiến yêu cầu chị Bình phải trả lại 01 sổ tiết kiểm và 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên anh Cầm; tại phiên hòa giải cũng như các buổi làm việc đã hướng dẫn bị đơn anh Cầm làm đơn yêu cầu và nộp các tài liệu chứng cứ để thụ lý giải quyết nhưng bị đơn anh Cầm, không thực hiện không có yêu cầu phản tố do đó việc anh Cầm trình bày chị Bình lấy sổ tiết kiệm và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có cơ sở để xem xét.

Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ áp dụng điều 56,57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của của chị Nguyễn Thị Bình. Chị Nguyễn thị Bình được ly hôn với anh Đinh Văn Cầm.

Về con chung : Chị Bình, anh Cầm không có con chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa giải quyết nên không đặt ra để xem xét.

Về án phí HNST: Chị Nguyễn Thị Bình phải nộp 300.000đ(Ba trăm ngàn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền chị Bình đã nộp theo biên lai số 0001911, ngày 22-6-2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu. Chị Bình đã nộp xong án phí Hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Áp dụng Điều 56 và Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân:

Tuyên xử: Chị Nguyễn Thị Bình được ly hôn với anh Đinh Văn Cầm.

- Về con chung : Chị Bình, anh Cầm không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa giải quyết nên không đặt ra để xem xét.

-Về án phí HNST: Chị Nguyễn Thị Bình phải nộp 300.000đ(Ba trăm ngàn đồng),nhưng được khấu trừ vào số tiền chị Bình đã nộp theo biên lai số 0001911, ngày 22-6-2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu. Chị Bình đã nộp xong án phí Hôn nhân sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân Tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

HỘI ĐỒ XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ