vanban.org

Bản án 88/2019/HSST — Hình sự

TAND TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 17/04/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn A, phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

[2] Về điều luật áp dụng và hình phạt: Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tấn A; Tên gọi khác: B; 2 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tấn A - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn A, phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2019/HSST
Ngày: 17 - 04 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

́

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀ NH PHÔ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị An

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Ngọc Khương.

- Bà Nguyễn Thị Bạn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuô ̣t, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thà nh phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Đinh Văn Hải – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 04 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuô ̣t, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 73/2019/TLST-HS ngày 28 tháng 03 năm 2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2019/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 04 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Tấn A; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: B; Sinh ngày 20 tháng 10 năm 1990; Tại: Đắk Lắk; Nơi cư trú: Thôn N, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Thợ cắt tóc; Con ông: Nguyễn Tấn C (Đã chết); Con bà: Mai Thị C, sinh năm: 1945, hiện trú tại: Thôn N, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Gia đình bị cáo có 04 anh, chị em ruột bị cáo là con út; Bị cáo có vợ là Trần Thị Lan A, sinh năm: 1994; Bị cáo có 01 con, sinh năm: 2015; Tiền án: Không; Tiền sự: Không;

Nhân thân:

Ngày 27/02/2009, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử phúc thẩm, tuyên phạt 01 năm 03 tháng tù, về tội: Cố ý gây thương tích (Bản án số: 35/2009/HSPT), ngày 10/10/2010 chấp hành xong hình phạt, về địa phương sinh sống.

Ngày 21/02/2019, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử phúc thẩm, tuyên phạt 01 năm tù, về tội: Đánh bạc (Bản án số: 35/2019/HSPT).

Ngày 09/12/2018 có hành vi Cố ý gây thương tích, ngày 10/12/2018 ra đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 10/12/2018 đến ngày 19/12/2018 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, khởi tố và áp dụng biện pháp ngăn chặn Tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Buôn Ma Thuột, cho tới nay, có mặt.

* Bi ̣ ha ̣i:

Anh Trần Đình Anh T, sinh năm 1988; đi ̣a chỉ: Thôn T, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, (vắng mă ̣t);

* Ngườ i có quyền lợi, nghia vu ̣̃

liên quan:

Chị Trần Thị A, sinh năm 1996; đi ̣a chi: Thôn T, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk̉ Lắk, (có mă ̣t);

* Người làm chứng:

1.Ông Huỳnh Vũ Ân T, sinh năm 1965; đi ̣a chi: đường B, thôn T, xã H, thành̉ phố B, tỉnh Đắk Lắk, (có mă ̣t);

2.Anh Đậu Văn T, sinh năm 1995; đi ̣a chi: Thôn T, xã H, thành phố B, tỉnh̉ Đắk Lắk, 8 (vắng mă ̣t);

3.Anh Phạm Xuân H, sinh năm 1999; đi ̣a chỉ: Thôn B, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, (vắng mă ̣t);

4.Anh Nguyễn Đức H, sinh năm 1994; đi ̣a chỉ: đường B, thôn C, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, (vắng mă ̣t);

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Tân A và anh Trần Đình Anh T, là bạn bè quen biết chơi với nhau. Vào tháng 12/2018, T đưa cho A 200.000 đồng nói đi mua mồi về nhậu, A cầm tiền nhưng không mua đồ nhậu. Khoảng 15 gờ 40 phút phút ngày 09/12/2018, sau khi đi nhậu xong T gọi điện thoại cho A hỏi đang ở đâu và đòi số tiền trên thì A nói với T đang chơi game ở quán Internet, địa chỉ đường B, thôn C, xã H, thành phố B và nói T “Thích gì xuống gặp nói chuyện”. Sau khi nghe A nói, T liền lấy trong nhà ra 01 con dao cán màu đen lưỡi bằng kim loại, mũi cong sắc nhọn, dài 75 cm dấu vào cốp xe Mô tô hiệu Yamaha Jupiter màu đen, biển kiểm soát 47B1- 036.48, rồi điều khiển xe đi đến quán Internet “Pronet T” để gặp A. Biết T sẽ đến tìm nên A không chơi game nữa mà thanh toán tiền chơi cho anh Nguyễn Đức H, (là người quản lý quán internet), rồi đứng chơi trong quán internet đợi T. Một lúc sau, T điều khiển xe mô tô đến dựng trước quán Internet và mở cốp xe lấy dao ra cầm trên tay phải đi vào trong quán Internet đến phía sau chỗ A đứng dùng tay trái kẹp cổ A và tay phải cầm dao kề vào ngực A chửi và hù dọa A và nói “Mày có tin tao cắt cổ mày không”. Lúc này, A nói với T “Có gì từ từ nói chuyện”. Lợi dụng lúc T không để ý, A giật được con dao trên tay của T rồi chém liên tiếp nhiều nhát trúng vào hai bên hông người T thì lưỡi dao bị gãy rơi xuống nền nhà, A tiếp tục nhặt 02 đoạn dao lên, rồi mỗi tay cầm một đoạn tiếp tục xông đến chém T, thì T bỏ chạy trốn vào buồng vệ sinh quán Internet đóng cửa lại. Thấy vậy, A đi ra phía trước quán Internet, gọi điện thoại cho bạn tên Đ (không rõ nhân thân lai lịch) nói cho Đ biết “Thằng T nó cầm dao hù dọa, tao vừa chém nó xong, lên quán nét chở anh về”. Nghe A gọi điện, T sợ A gọi người đến đánh nên mở cửa buồng vệ sinh chạy ra ngoài thì A tiếp tục cầm 02 tay hai đoạn dao bị gãy xông đến chém và đâm T thì T giơ tay lên đỡ rồi bỏ chạy, A đuổi theo T đâm trúng một nhát vào phía sau lưng gần bả vai phải của T gây thương tích rồi dừng lại không đuổi T nữa và vứt 02 đoạn dao tại dải phân cách đường Nguyễn Thái B. Sau đó Đ đến chở A về nhà. Còn anh T được mọi người đưa đi Bệnh viện đa khoa vùng Tây Nguyên cấp cứu và điều trị đến ngày 14/12/2018 thì ra viện. Ngày 10/12/2018, Nguyễn Tấn A, đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, đầu thú và và giao nộp 01 đoạn dao bị gãy ở phần cán quấn vải màu đỏ dài 40 cm, còn lại 01 đoạn dao lưỡi sắc nhọn dài 35cm quá trình khám nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ, để phục vụ công tác điều tra.

Tại bản Kết luận pháp y thương tích số 35/PY- TgT, ngày 10/12/2018 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận: Anh Trần Đình Anh T, bị đa thương, vỡ bờ ngoài đầu trên xương đùi trái tỷ lệ thương tích 30% (Vật tác động sắc bén).

Tại bản Kết luận pháp y thương tích bổ sung số 305/PY-TgT, ngày 01/3/2019 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận: Trần Đình Anh T, bị đa thương, vỡ bờ ngoài mấu chuyển lớn xương đùi trái, tỷ lệ thương tích: 30%. (Vật tác động sắc bén).

Anh Trần Đình Anh T đã kê khai và yêu cầu bị cáo Nguyễn Tấn A, phải bồi thường các khoản chi phí sau:

Tiền thuốc điều trị tổng cộng là 2.000.000 đồng; tiền bồi dưỡng sức khỏe là 1.500.000 đồng; tiền công người chăm sóc là 1.500.000 đồng.

Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Tấn A, đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường cho anh Trần Đình Anh T, tổng cộng số tiền là 6.000.000đồng. Anh T không yêu cầu bồi thường gì thêm và làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Tấn A.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, bị cáo Nguyễn Tấn A, đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu và chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 96/CT-VKS-TP.BMT, ngày 25/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, đã truy tố bị cáo Nguyễn Tấn A về tội “ Cố ý gây thương tích” điểm a khoản 1 và điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm a khoản 1 và điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự và tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 56 của Bộ luật hình sự, để tuyên bố bi ̣ cáo: Nguyễn Tấn A pha ̣m tô ̣i “Cố ý gây thương tich” và xử pha ̣t bi ̣ cáo từ

́ 02 năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

* Về trá ch nhiê ̣m dân sự: Á p du ̣ng Điều 48 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự; Điều 584; Điều

̀ 585; Điều 586; Điều 590 Bô ̣ luâ ̣t dân sự;

+ Đề nghị chấp nhận việc anh Trần Đình Anh T đã tự nguyện viết đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Tấn A và không yêu cầu bị cáo A bồi thường gì thêm.

* Về xử lý vật chứng:

+ Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 con dao bằng kim loại cán màu đen quấn vải màu đỏ dài 75cm, đầu mũi dao cong sắc nhọn, bản rộng lưỡi dao 04cm, bị gãy 02 đoạn, 01 đoạn dài 40cm và 01 đoạn dài 35 cm là hung khí mà bị cáo A đã sử dụng vào việc phạm tội.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo không tranh luận gì thêm mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng một mức án nhẹ nhất vì bị cáo đã ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒ A Á N:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuô ̣t, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuô ̣t, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã, thực hiê ̣n đúng thẩm quyền, tuân thủ đầy đủ theo quy định của thủ tục tố tụng về thu thập tài liệu chứng cứ của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo, bi ̣ ha ̣i, ngườ i có quyền lợi, nghiã vu ̣ liên quan, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và hình phạt:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu,chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận: Do ý thức coi thường sức khỏe của người khác, nên vào khoảng 15 giờ 40 phút ngày 09/12/2018, tại địa chỉ: đường B, thôn C, xã H, thành phố B thay vì sau khi T dịu xuống không gây án nữa thì A lại chợp dựt con dao từ tay của T và dùng con dao này lưỡi bằng kim loại, mũi cong sắc nhọn, dài 75 cm để chém T liên tiếp nhiều nhát trúng vào hai bên hông người T, khi lưỡi dao bị gãy rơi xuống nền nhà, nhưng A vẫn tiếp tục nhặt 02 đoạn dao lên, rồi mỗi tay cầm một đoạn tiếp tục xông đến chém T, khi T bỏ chạy A vẫn không tha mà vẫn tiếp tục đuổi theo chém tiếp. Sau khi gây án xong A được Đ đến chở A về nhà. Còn anh T được mọi người đưa đi Bệnh viện đa khoa vùng Tây Nguyên cấp cứu và điều trị đến ngày 14/12/2018 thì ra viện.

*Tại bản Kết luận pháp y thương tích số 35/PY- TgT, ngày 10/12/2018 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận: Anh Trần Đình Anh T, bị đa thương, vỡ bờ ngoài đầu trên xương đùi trái tỷ lệ thương tích 30% (Vật tác động sắc bén).

*Tại bản Kết luận pháp y thương tích bổ sung số 305/PY-TgT, ngày 01/3/2019 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận: Trần Đình Anh T, bị đa thương, vỡ bờ ngoài mấu chuyển lớn xương đùi trái, tỷ lệ thương tích: 30%. (Vật tác động sắc bén).

Như vậy, hành vi trên của A đã có đủ các yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Tô ̣i pha ̣m và hinh pha ̣t được quy đi ̣nh ta ̣i điểm a khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều

̀ 134 của Bộ luật Hình sự.

Do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, đã truy tố bị cáo: Nguyễn Tấn A, về tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm a khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Điều 134 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”.

Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo không những xâm hại đến sức khỏe của anh Trần Đình Anh T mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được rằng: Tính mạng, sức khỏe của con người là vốn quý, được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm hại trái pháp luật đều bị trừng trị nghiêm khắc; nên cần cách ly bi ̣ cáo ra khỏi đờ i sống xa hô ̣̃ i mô ̣t thờ i gian, có như vâ ̣y mớ i phát huy tốt tinh giáo

́ du ̣c, răn đe và phòng ngừ a chung trong toàn xa hô ̣̃ i.

Tuy nhiên, trong vụ án này nguyên nhân dẫn đến phạm tội cũng một phần do lỗi của bị hại đã cầm dao tấn công trước. Sau khi phạm tội, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi pha ̣m tô ̣i của minh, bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại; trong quá

̀ trình điều tra người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ Luật hình sự, cần áp dụng khi lượng hinh nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của pháp

̀ luật nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Ngoài ra, ngày 21/02/2019, bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử phúc thẩm, tuyên phạt 01 năm tù, về tội: Đánh bạc (Bản án số: 35/2019/HSPT). Do vậy, mức án tù sẽ tổng hợp để tuyên trong vụ án này.

[3] Về trá ch nhiê ̣m dân sự: Á p du ̣ng Điều 48 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự; Điều 584; Điều

̀ 585; Điều 586; Điều 590 Bô ̣ luâ ̣t dân sự;

Ghi nhận việc bị cáo Nguyễn Tấn A, đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường cho anh Trần Đình Anh T, tổng cộng số tiền là 6.000.000đồng.Anh T đã nhận số tiền trên và không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên không đă ̣t ra xem xét giải quyết.

[4] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 con dao bằng kim loại cán màu đen quấn vải màu đỏ dài 75cm, đầu mũi dao cong sắc nhọn, bản rộng lưỡi dao 04cm, bị gãy 02 đoạn, 01 đoạn dài 40cm và 01 đoạn dái 35 cm là hung khí bị cáo A sử dụng vào việc phạm tội, nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

[5] Về á n phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chi ̣u án phi hình sự sơ thẩm là

́ 200.000đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 134, Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự;

[1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn A, phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

[2] Về điều luật áp dụng và hình phạt:

Áp dụng điểm a khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Bô ̣ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tấn A; Tên gọi khác: B; 2 (hai) năm 03 (ba) tháng tù.

Tổng hợp hình phạt 01 năm tù của bản án hình sự số: 75/2019/HS-PT ngày 21-02-2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk. Tổng hợp hình phạt chung là 03 (ba) năm 03 tháng tù.Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 10/12/2018. Được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 09/8/2018 đến ngày 18/8/2018.

[3] Về trá ch nhiê ̣m dân sự: Á p du ̣ng Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 590 Bô ̣ luâ ̣t dân sự;

Ghi nhận việc bị hại Trần Đình Anh T đã nhận của bị cáo số tiền là: 6.000.000đồng và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

[4] Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 con dao bằng kim loại cán màu đen quấn vải màu đỏ dài 75cm, đầu mũi dao cong sắc nhọn, bản rộng lưỡi dao 04cm, bị gãy 02 đoạn, 01 đoạn dài 40cm và 01 đoạn dái 35 cm là hung khí bị can A sử dụng vào việc phạm tội.

(Vật chứ ng đang được lưu giữ tại Chi cục thi hà nh á n dân sự thà nh phố Buôn Ma Thuột, tinh Đắ k Lắk, đặc điểm cụ thể theo biên bản giao nhận vật chứ ng ngà y

̉ 27/3/2019).

[5] Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy đi ̣nh về mứ c thu, miễn, giảm, thu, nô ̣p, quản lý và sử du ̣ng án phi lê ̣ phi Tòa án.

́

́

Buô ̣c bị cáo Nguyễn Tấn A phải chịu 200.000 (hai trăm) ngàn đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[6] Về quyền kháng cáo:

Bị cáo; ngườ i có quyền lợi, nghia vu ̣̃

liên quan có mă ̣t ta ̣i phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bi ̣ ha ̣i vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ