vanban.org

Bản án 88/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 26/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Tuyên bố bị cáo DVN phạm tội “Hủy hoại tài sản”

Xử phạt bị cáo DVN 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/4/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? * Tuyên bố bị cáo DVN phạm tội “Hủy hoại tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2019/HSST
Ngày: 26-6-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Xuân Mai

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Khanh

Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Huy Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện H

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên tòa:

Bà Phạm Thị Thanh Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, Tòa án nhân dân huyện H đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 71/2019/TLST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2019/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: DVN, sinh ngày 14/4/2002 tại ST. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp MT, xã MB, thị xã NN, tỉnh ST. Nơi cư trú hiện nay: 567 TK, phường TMT, Quận B, Tp. HCM; nghề nghiệp: không, trình độ văn hóa (học vấn) 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông DVT và bà HTT; tiền án: không, tiền sự: tháng 7/2017 bị Công an Quận B, Tp. HCM xử phạt cảnh cáo về hành vi cố ý gây thương tích. Tháng 4/2018 bị Công an Quận B, Tp. HCM xử phạt cảnh cáo về hành vi xâm phạm đến sức khỏe của người khác; tạm giam từ ngày 05/7/2018 đến 01/11/2018 được thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 13/4/2019 đến nay; có mặt.

Những người tham gia tố tụng khác:

Người bị hại:

1. Ông NVD, sinh năm: 1968. Nơi cư trú: 13/5 ấp TL, xã BĐ, huyện H, Tp. HCM; vắng mặt.

2. Bà NTTT, sinh năm: 1971. Nơi cư trú: 13/5 ấp TL, xã BĐ, huyện H, Tp. HCM; vắng mặt.

3. Ông Nguyễn Đệ Nhứt, sinh năm: 1992. Nơi cư trú: 13/5 ấp TL, xã BĐ, huyện H, Tp. HCM; vắng mặt.

4. Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích, sinh năm: 1968. Nơi cư trú: 13/5 ấp TL, xã BĐ, huyện H, Tp. HCM; vắng mặt.

5. Ông Nguyễn Văn Dương, sinh năm: 1971. Nơi cư trú: 13/3E ấp TL, xã BĐ, huyện H, Tp. HCM; vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Ông NVN, sinh năm: 1994. Nơi cư trú: 39/3L ấp HL, xã BĐ, huyện H, Tp.

HCM; vắng mặt.

2. Ông TVĐ, sinh năm: 1983. Nơi cư trú: 407/93 khu phố 2, phường TCH, Quận B, Tp. HCM; vắng mặt

3. Ngân Hàng C - Chi nhánh K. Địa chỉ: A 22/5 Quốc lộ 50, ấp 1, xã BH Huyện BC, Tp. HCM.

Đại diện ủy quyền: Ông HVBT, ông ĐHD (vắng mặt)

Địa chỉ: 214 PĐL, Phường 12, Quận PN, Tp. HCM

4. Ông LĐC, sinh năm: 1996. Nơi cư trú: 232/6B ấp 4, xã ĐT, huyện Hóc Môn, Tp. HCM; vắng mặt.

5. Ông LĐT; Thường trú: 17/12 ấp TP, xã ST, huyện CL, tỉnh BT. Nơi cư trú hiện nay: 159/5M ấp TĐ 2, xã TTT, huyện H, Tp. HCM; vắng mặt.

6. Bà PTDT. Thường trú: Thôn 2, xã BM, huyện BĐ, tỉnh BP. Nơi cư trú hiện nay: 23/3A ấp M 1, xã TX, huyện H, Tp. HCM; vắng mặt.

Đại diện cho bị cáo DVN:

Ông DVT, sinh năm: 1975. Nơi cư trú: TK, phường TMT, Quận B, Tp. HCM; có mặt.

Bà HTT, sinh năm: 1978. Nơi cư trú: TK, phường TMT, Quận B, Tp. HCM; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Dương Văn Ngà: Ông NKH – Luật sư, Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Tp. HCM; có mặt;

Địa chỉ: 470 NTP, Phường 9, Quận 10, Tp. HCM

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

NĐN và PTT có mâu thuẩn trong việc PTT cho ƯVH vay tiền, sau đó NĐN là anh em của H đứng ra gây sự và thách thức T. Ngày 23/5/2018 nhà T bị đập phá, nghi ngờ N thực hiện nên T đến kể sự việc với VNH, BHT, TTN thì H bàn bạc đi lên tỉnh Tây Ninh mua hung khí về đập phá tài sản nhà NĐN để trả thù thì cả bọn đồng ý. Sau đó, N điều khiển xe ô tô hiệu Mazda biển số 51G-142.86 chở H, PTT, Tr đi đến tỉnh TN mua hung khí (gồm dao tự chế, rựa và phản chặt cỏ) với giá khoảng 3.000.000 đồng do PTT trả, sau khi mua xong đem về nhà N cất giấu. H có nhiệm vụ tập trung thêm nhiều người để tham gia đi đập phá nhà NĐN.

Khoảng 17 giờ ngày 24/5/2018 H(Rồ) gọi điện thoại, tụ tập các đối tượng gồm: NHT, ĐQH, LTT, LH, LVT, PMT, NTTM, DVN, PMD, NBĐH, S (không rõ lai lịch) cùng một số đối tượng (chưa rõ lai lịch), tổng cộng khoảng 40 người tập trung tại quán “Lá” khu vực xã TX, huyện H. H (Rồ) kêu Duy về nhà H(rồ) lấy đạn (không rõ loại đạn) gì đem đến quán cho H (rồ), rồi điện thoại cho T (T hí) đem hung khí đến. Sau đó N, Th, Tr(Bảo) điều khiển xe ô tô 51G-142.86 đến nhà Nh lấy hung khí đã chuẩn bị sẵn đem đến bãi đất trống cách quán “Lá” khoảng 100m. H(Rồ) phân công người nào ngồi sau xe máy thì đến ô tô lấy hung khí. H, M, N, T, T, D và những người ngồi sau xe máy lấy mỗi người 01 hung khí. T điều khiển xe gắn máy hiệu Click (không rõ biển số) chở T (Bảo) đi trước có nhiệm vụ chỉ nhà Sa (Hô), H (rồ) chạy xe máy hiệu SH chở H, T chạy xe máy hiệu Winner biển số 50Y1-057.60 chở N, H (Bi) chở T bằng xe gắn máy hiệu Click màu đen đỏ biển số 71C4 - 288.50 chở T, S chở T bằng xe gắn máy hiệu Nozza biển số 56G1-777.99, M (Bin) và D được 02 thanh niên (không rõ lai lịch) chở bằng xe máy không rõ hiệu; riêng T (Hí) và N điều khiển xe ô tô biển số 51G-765.78 đi lòng vòng.

T và T (B) dẫn cả nhóm đến hẻm nhà S (Hô) tại số 13/5 ấp TL, xã BĐ, huyện H thì T kêu lớn “Nhà S hô trong hẻm nè” rồi chở T(Bảo) ra Ngã tư Nguyễn Ảnh Thủ và Phan Văn Hớn đứng đợi. Những người cầm lái đứng ngoài hẻm đợi, còn những người ngồi sau dùng hung khí đập phá cửa kính, ti vi, tủ lạnh, xe gắn máy 04 nhà liền kề cùng địa chỉ 13/5 và 13/3F ấp TL, xãBĐ, huyện H của các bị hại NVD, NTNT, NVD và NĐN trong hẻm rồi bỏ chạy. Lúc này có người la “Công an” nên H(rồ) kêu mọi người bỏ chạy. Sau đó H(Rồ), H, D méo cùng một số đối tượng chạy về nhà H(rồ) gom hung khí, rồi H (rồ) gọi điện cho T hí và N điều khiển xe ô tô 56G1-777.99 đến chở hung khí cất giấu tại nhà của TVĐ (em của N) ở Quận B. Sau đó các bị hại đến Công an trình báo và khai thêm ngoài số tài sản bị hủy hoại còn bị mất 03 điện thoại di động hiệu Iphone.

Đối với VNH, BTHT và DVN bỏ trốn, Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã. Sau đó VNH đã bị bắt theo lệnh truy nã. Đến ngày 13/4/2019 N bị bắt theo lệnh truy nã. Ngày 16/4/2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện H phục hồi vụ án đối với bị can DVN. Đối với PTT, TTN, NHT, LVT, NTTM, PMT, LTT, ĐQH, LH và PMD đã được đưa ra xét xử theo Bản án số 44/2019/HSST ngày 29/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện H. VNH đã bị truy tố và cũng được đưa ra xét xử sơ thẩm.

Theo Kết luận định giá tài sản số 108/2018 ngày 09/6/2018 kết luận số tài sản bị hủy hoại trị giá 29.820.000 đồng; 03 điện thoại di động bị mất trị giá 16.300.000 đồng.

Về dân sự và vật chứng trong vụ án đã được giải quyết tại Bản án số 44/2019/HSST ngày 29/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện H.

Bản Cáo trạng số 71/CT-VKS ngày 03/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo DVN về tội “Hủy hoại tài sản” theo điểm a khoản 2 Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra bị cáo DVN đã nhận phạm tội “Hủy hoại tài sản”, và tại phiên tòa, bị cáo cũng thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, hành vi của bị cáo DVN có đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại tài sản”. Do đó Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo DVN như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo DVN mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.

Bị cáo DVN không có ý kiến gì đối với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về với gia đình.

Luật sư bào chữa cho bị cáo DVN đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo DVN khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên nên có nhận thức hạn chế, bị cáo thiếu sự quan tâm quản lý giáo dục từ phía gia đình nên dễ bị bạn bè xấu lôi kéo, xúi giục vào con đường phạm tội, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng nên đề nghị Hội đồng xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định truy tố của cơ quan điều tra huyện H, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ phạm tội: Khoảng 17 giờ ngày 24/5/2018 H (Rồ) gọi điện thoại, tụ tập các đối tượng gồm: NHT, ĐQH, LTT, LH, LVT, PMT, NTTM, DVN, PMD, NBĐH, S (không rõ lai lịch) cùng một số đối tượng (chưa rõ lai lịch), tổng cộng khoảng 40 người tập trung tại quán “Lá” khu vực xã TX, huyện H. H (Rồ) kêu D về nhà H (rồ) lấy đạn (không rõ loại đạn) gì đem đến quán cho H(rồ), rồi điện thoại cho T (Trung hí) đem hung khí đến. Sau đó N, T, T(Bảo) điều khiển xe ô tô 56G1-777.99 đến nhà N lấy hung khí đã chuẩn bị sẵn đem đến bãi đất trống cách quán “Lá” khoảng 100m. H (Rồ) phân công người nào ngồi sau xe máy thì đến ô tô lấy hung khí. H, M, N, T, T, D và những người ngồi sau xe máy lấy mỗi người 01 hung khí. Thao điều khiển xe gắn máy hiệu Click (không rõ biển số) chở T (Bảo) đi trước có nhiệm vụ chỉ nhà S (Hô), H(rồ) chạy xe máy hiệu SH chở H, T chạy xe máy hiệu Winner biển số 50Y1-058.60 chở N, H (Bi) chở T bằng xe gắn máy hiệu Click biển số 71C4-278.50 chở T, S chở T bằng xe gắn máy hiệu Nozza biển số 59G1-739.00, M (Bin) và D được 02 thanh niên (không rõ lai lịch) chở bằng xe máy không rõ hiệu; riêng T(Hí) và N điều khiển xe ô tô 56G1-777.99 đi lòng vòng. T và T(Bảo) dẫn cả nhóm đến hẻm nhà S hô tại số 13/5 ấp TL, xã BĐ, huyện H thì T kêu lớn “Nhà S hô trong hẻm nè” rồi chở T (Bảo) ra Ngã tư Nguyễn Ảnh Thủ và Phan Văn Hớn đứng đợi. Những người cầm lái đứng ngoài hẻm đợi, còn những người ngồi sau dùng hung khí đập phá cửa kính, ti vi, tủ lạnh, xe gắn máy 04 nhà liền kề cùng địa chỉ 13/5 và 13/3F của các bị hại NVD, NTND, NVD và NĐN trong hẻm rồi bỏ chạy. Lúc này có người la “Công an” nên H (rồ) kêu mọi người bỏ chạy. Sau đó H (Rồ), H, D méo cùng một số đối tượng chạy về nhà H(rồ) gom hung khí, rồi H (rồ) gọi điện cho T hí và N điều khiển xe ô tô 56G1-777.99 đến chở hung khí cất giấu tại nhà của TVĐ (em của N) ở Quận B. Sau đó các bị hại đến Công an trình báo và khai thêm ngoài số tài sản bị hủy hoại còn bị mất 03 điện thoại di động hiệu Iphone.

Xét thấy: Trong vụ án này, DVN với vai trò đồng phạm là người trực tiếp cầm mã tấu xông vào cùng đập phá các căn nhà của bị hại.

Kết quả tranh tụng tại phiên tòa cho thấy hành vi của bị cáo DVN là có tội.

Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo DVN có đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại tài sản” theo điểm a khoản 2 Điều 178 Bộ luật hình sự.

Bị cáo biết rõ hành vi của mình là phạm tội nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo DVN đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây ra dư luận xấu trong nhân dân nên bị cáo phải chịu hình phạt trước pháp luật. bị cáo có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.

* Xét về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu:

Tháng 2/2017 bị Công an Quận B, Tp. HCM xử phạt cảnh cáo về hành vi “Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác”;

Tháng 4/2017 bị Công an Quận B, Tp. HCM xử phạt cảnh cáo về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”;

Tháng 7/2017 bị Công an quận B, Tp. HCM xử phạt cảnh cáo về hành vi “Cố ý gây thương tích”;

Tháng 4/2018 bị Công an Quận B, Tp. HCM xử phạt cảnh cáo về hành vi “Xâm phạm đến sức khỏe của người khác”

* Về tình tiết tăng nặng: không

* Tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; bị cáo lần đầu phạm tội; người bị hại có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo khi phạm tội tuổi chưa thành niên.

Về dân sự: Do không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Tuyên bố bị cáo DVN phạm tội “Hủy hoại tài sản”

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 178, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17; Điều 38; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015; sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo DVN 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 13/4/2019.

Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và lệ phí Tòa án.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng. Thi hành tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Bị cáo, đại diện cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có mặt tại phiên tòa được kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyê án. Đối với người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ