vanban.org

Bản án 88/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 13/11/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "bà Nguyễn Ngọc N yêu cầu ông Nghiêm Mạnh T và bà Đinh Thị Liệu trả số tiền vay còn gốc nợ, không yêu cầu tính lãi"
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TH XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 88/2019/DS-ST
Ngày 13-11-2019
V/v tranh chấp hợp đồng
vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TH XÃ DĨ AN, T NH B NH DƯ NG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Minh Châu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tô Văn Nhung;

2. Ông Nguyễn Văn Nông.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng, Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Tuân - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2019, tại Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 292/2019/TLST-DS ngày 08/8/2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 107/2019/QĐXXST-DS ngày 04/10/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 116/2019/QĐST-DS ngày 28/10/2019, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc N, sinh năm 1963; địa chỉ: số 144 đƣờng V, khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng, có yêu cầu giải quyết mặt.

- Bị đơn:

1/ Ông Nghiêm Mạnh T, sinh năm 1975;

2/ Bà Đinh Thị L, sinh năm 1976.

Cùng thƣờng trú: 122/88 (số cũ 1/15), đƣờng V, khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 26/7/2019 và đơn xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện ngày 27/9/2019, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc N trình bày:

Do có mối quan hệ quen biết với nhau và do cần tiền để mở rộng cơ sở kinh doanh nên vào năm 2018 ông Nghiêm Mạnh T và bà Đinh Thị L có vay của bà Nguyễn Ngọc N 02 lần với tổng số tiền là 360.000.000 đồng cụ thể:

Ngày 20/10/2018 ông T, bà L vay số tiền là 200.000.000 đồng, có làm hợp đồng cho vay tiền, hai bên thỏa thuận lãi suất là 5%/tháng, thời hạn vay 08 tháng tính từ ngày 20/10/2018 đến ngày 20/8/2019.

Ngày 30/12/2018 ông T, bà L vay số tiền là 160.000.000 đồng, có làm hợp đồng cho vay tiền, hai bên thỏa thuận lãi suất là 5%/tháng, thời hạn vay 12 tháng tính từ ngày 30/12/2018 đến ngày 30/12/2019.

Khi vay thì ông T, bà L không thế chấp tài sản gì cho bà N. Ông T, bà L đã trả đƣợc 03 lần tiền lãi đối với số tiền vay 200.000.000 đồng của khoản vay ngày 20/10/2018 và đã trả đƣợc 01 lần tiền lãi đối với số tiền vay 160.000.000 đồng của khoản vay ngày 30/12/2018, sau đó thì ông T, bà L không tiếp tục trả tiền lãi nữa, mặc dù bà N đã nhiều lần yêu cầu nhƣng ông T, bà L không trả. Đến tháng 5/2019 thì cơ sở ông T, bà L đóng cửa không còn hoạt động, hiện ông T, bà L đã đi khỏi địa phƣơng không thể liên lạc đƣợc. Bà N khởi kiện yêu cầu ông Nghiêm Mạnh T và bà Đinh Thị L trả tiền vay gốc còn nợ 360.000.000 đồng và tiền lãi suất nợ quá hạn tạm tính từ tháng 02/2019 đến tháng 5/2019 (4 tháng) là 360.000.000 đồng x 0,75%/tháng x 4% = 10.800.000 đồng, tổng cộng là 370.800.000 đồng. Tuy nhiên ngày 27/9/2019 bà N có đơn xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu ông T, bà L phải trả số tiền lãi 10.800.000 đồng, mà chỉ yêu cầu ông Nghiêm Mạnh T và bà Đinh Thị L phải trả lại số tiền vay gốc còn nợ là 360.000.000 đồng theo các giấy vay tiền ngày 20/10/2018 và ngày 30/12/2018, đồng thời bà N tự nguyện khấu trừ số tiền lãi đã nhận dƣ từ ông T, bà L vào số tiền gốc mà ông T,bà L còn nợ của bà N là 360.000.000 đồng

- 25.308.000 đồng = 334.692.000 đồng. Vậy nay bà Nguyễn Ngọc N yêu cầu ông Nghiêm Mạnh T và bà Đinh Thị L phải trả lại số tiền vay gốc còn nợ là 334.692.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Chứng cứ nguyên đơn cung cấp: Hợp đồng cho vay tiền ngày 20/10/2018 và ngày 30/12/2018 có chữ ký của ông Nghiêm Mạnh T và bà Đinh Thị L.

- Đối với bị đơn ông Nghiêm Mạnh T và bà Đinh Thị L: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải bằng hình thức niêm yết và yêu cầu ông Nghiêm Mạnh T và bà Đinh Thị L có ý kiến trả lời bằng văn bản đối với các yêu cầu của bà Nguyễn Ngọc N nhƣng ông T, bà L không có ý kiến cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì. Vào ngày 27/9/2019, Tòa án triệu tập ông T, bà L tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tham gia hòa giải, nhƣng ông T, bà L vắng mặt không có lý do. Đồng thời, Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng yêu cầu ông T, bà L tham gia phiên tòa vào ngày 28/10/2019 và ngày 13/11/2019 nhƣng ông T, bà L vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, việc giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đƣợc xem xét trên cơ sở chứng cứ do nguyên đơn cung cấp.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã D: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Tòa án và nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định. Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

NHẬN Đ NH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa, Tòa án nhận định:

[1] Về điều kiện thụ lý vụ án: Bà Nguyễn Ngọc N có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nghiêm Mạnh T, bà Đinh Thị L có địa chỉ tại khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng phải trả số tiền vay còn nợ là 360.000.000 đồng phát sinh từ hợp đồng vay tài sản vì vậy đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Theo quy định tại Khoản 3 Điều 26, Khoản 1 Điều 35 và Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng.

[2] Về việc vắng mặt của các đƣơng sự: Nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc N có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn ông Nghiêm Mạnh T và bà Đinh Thị L đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhƣng vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đƣơng sự theo quy định của Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về tƣ cách tham gia tố tụng: Ông Trần Minh K là chồng của bà Nguyễn Ngọc N. Qúa trình tố tụng, ông K xác định không liên quan gì đến số tiền bà N cho ông T, bà L vay, đồng thời ông K đề nghị Tòa án không đƣa ông vào tham gia vụ án với tƣ cách là ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Vì vậy, Tòa án không đƣa ông Trần Minh K vào tham gia vụ án với tƣ cách là ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

[4] Về việc thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ngày 27/9/2019 nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc N có đơn xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu ông T, bà L trả tiền lãi suất nợ quá hạn tạm tính từ tháng 02/2019 đến tháng 5/2019, là 10.800.000 đồng mà chỉ yêu cầu ông T, bà cùng có trách nhiệm trả cho bà N số tiền vay gốc còn nợ 360.000.000 đồng, theo giấy vay tiền ngày 20/10/2018 và ngày 30/12/2018 . Đồng thời bà N tự nguyện khấu trừ số tiền lãi đã nhận dƣ từ ông T, bà L vào số tiền gốc mà ông T, bà L còn nợ bà N là 360.000.000 đồng - 25.308.000 đồng = 334.692.000 đồng. Bà Nguyễn Ngọc N yêu cầu ông Nghiêm Mạnh T và bà Đinh Thị L phải trả lại số tiền vay gốc còn nợ là 334.692.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Việc thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện nên căn cứ Điều 235, Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử chấp nhận đối với việc xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện của bà N.

[5] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc N xác định năm 2018 ông T, bà L có vay của bà N tổng số tiền 360.000.000 đồng theo các giấy vay tiền ngày 20/10/2018 và ngày 30/12/2018. Căn cứ vào hợp đồng cho vay tiền ngày 20/10/2018 và ngày 30/12/2018 xác định ông Nghiêm Mạnh T và bà Đinh Thị L có vay của bà N tổng số tiền là 360.000.000 đồng, do ông T, bà L vi phạm nghĩa vụ trả lãi, nên bà N khởi kiện yêu cầu ông T, bà L phải thanh tóan tiền nợ gốc 360.0000.000 đồng là có căn cứ.

Tuy nhiên, trong quá trình tố tụng bà N thừa nhận đã nhận tiền lãi của ông T, bà L là 30.000.000 đồng đối với khoản vay ngày 20/10/2018 (số tiền 200.000.000 đồng x 03 tháng x 5%/tháng = 30.000.000 đồng); số tiền lãi 8.000.000 đồng khoản vay ngày 30/12/2018 (số tiền 160.000.000 đồng x 01 tháng x 5%/tháng = 8.000.000 đồng). Theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 “…trƣờng hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không đƣợc vƣợt quá 20%/năm của khoản tiền vay,…”. Bà N và ông T, bà L thỏa thuận 5%/tháng (tƣơng đƣơng 60%/năm). Do đó, phần lãi suất vƣợt quá mức lãi suất 20%/năm không đƣợc chấp nhận. Mức lãi suất bà N đƣợc chấp nhận là 1,67%/tháng cụ thể với các khoản tiền vay nhƣ sau: khoản vay ngày 20/10/2018 số tiền 200.000.000 đồng x 03 tháng x 1,67%/tháng = 10.020.000 đồng; khoản vay ngày 30/12/2018 số tiền 160.000.000 đồng x 01 tháng x 1,67%/tháng = 2.692.000 đồng, tổng số tiền lãi bà N đƣợc chấp nhận là 12.692.000 đồng. Bà N đã nhận tiền lãi của ông T, bà L là 38.000.000 đồng – 12.692.000 đồng = 25.308.000 đồng nên tự nguyện khấu trừ tiền lãi đã nhận dƣ 25.308.000 đồng vào tiền nợ gốc. Số tiền nợ gốc còn lại đối với các hợp đồng cho vay tiền ngày 20/10/2018 và ngày 30/12/2018 là 334.692.000 đồng, xét đây là ý chí tự nguyện của nguyên đơn, phù hợp với Điều 5 Bộ luật tố tụng Dân sự và có lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Nhƣ vậy, tổng số tiền nợ gốc ông Nghiêm Mạnh T và bà Đinh Thị L còn phải thanh toán cho bà Nguyễn Ngọc N theo các hợp đồng cho vay tiền ngày 20/10/2018 và ngày 30/12/2018 là 334.692.000 đồng.

[6] Bà Nguyễn Ngọc N không yêu cầu ông Nghiêm Mạnh T và bà Đinh Thị L phải trả tiền lãi đối với số tiền vay gốc còn nợ. Xét đây là sự tự nguyện của bà N và có lợi cho ông T, bà L nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[7] Quá trình tố tụng, bị đơn đã đƣợc Tòa án niêm yết giấy triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng nhiều lần nhƣng bị đơn ông Nghiêm Mạnh T, bà Đinh Thị L vắng mặt không có lý do và không có văn bản nào thể hiện ý kiến về việc không thừa nhận chữ ký của ông T, bà L trong các hợp đồng cho vay tiền ngày 20/10/2018 và ngày 30/12/2018, đồng thời cũng không xuất trình chứng cứ chứng minh ông T, bà L không vay nợ của bà N hoặc đã thanh toán xong các khoản nợ trên.

[8] Từ những phân tích trên, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[9] Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc N không phải chịu. Bị đơn ông Nghiêm Mạnh T và bà Đinh Thị L phải chịu toàn bộ án phí, theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH:

Căn cứ vào Điều 144, Điều 147, Điều 228, Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ Điều 463, 466, 357, 470 của Bộ luật Dân sự 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc N đối với bị đơn ông Nghiêm Mạnh T và Đinh Thị L về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Buộc ông Nghiêm Mạnh T và bà Đinh Thị L phải thanh toán cho bà Nguyễn Ngọc N số tiền vay gốc còn nợ 334.692.000 đồng (ba trăm ba mƣơi bốn triệu, sáu trăm chín mƣơi hai nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ngƣời đƣợc thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nghiêm Mạnh T và bà Đinh Thị L phải chịu 16.734.600 đồng (mƣời sáu triệu, bảy trăm ba mƣơi bốn nghìn, sáu trăm đồng). Hoàn trả cho bà Nguyễn Ngọc N số tiền 9.270.000 đồng (chín triệu hai trăm bảy mƣơi nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0029056 ngày 07/8/2019 của Chi cục thi hành án Dân sự thị xã D.

3. Các đƣơng sự vắng mặt tại phiên tòa đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết công khai.

Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ