- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Văn L - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Mai Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 88/2018/HSST Ngày: 03-4-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diện
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Tiến Dũng
Bà Nguyễn Thị Kim Chung
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Trung - Kiểm sát viên
Ngày 03 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 88/2018/TLST-HS ngày ngày 15 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2018/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Mai Văn L, sinh năm 1992 tại tỉnh Nam Định; nơi cư trú: thôn D, xã T, huyện N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hóa: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Mai Văn T và bà: Trần Thị T, sinh năm 1964; chưa có vợ con; tiền án: ngày 21-5-2015 Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định xử phạt 15 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; tiền sự: không; nhân thân: ngày 17-12-2009 Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định xử phạt 18 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” (đã được xóa án tích); bị bắt, tạm giữ ngày 26-12-2017, chuyển tạm giam ngày 01-01-2018; có mặt.
Người làm chứng: Ông N, ông Đ (Tòa án không triệu tập tham gia phiên tòa, vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 26-12-2017, tại khu vực đường L gần cầu Đ, xã N, thành phố N, tổ công tác Đội 6 Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an tỉnh Nam Định kiểm tra hành chính đối với Mai Văn L, L đã thả từ tay phải xuống đất 02 gói nhỏ gói giấy bạc, kiểm tra bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng, L khai là 02 gói Heroine. Tổ công tác tiến hành thu giữ, niêm phong vật chứng, đồng thời tạm giữ của L 01 điện thoại di động Mastel màu đen (đã cũ), 123.000 đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam và 01 căn cước công dân mang tên Mai Văn L; đưa L cùng người làm chứng về trụ sở Công an tỉnh Nam Định lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Bản kết luận giám định số 1076/GĐKTHS ngày 28-12-2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại ma túy là Heroine, có tổng khối lượng là 0,177 (không phẩy một bảy bảy) gam.
Tại cơ quan điều tra, Mai Văn L khai: Khoảng 12 giờ 35 phút ngày 26-12-2017, L gọi xe tắc xi đi từ cổng Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định đến khu vực chân cầu Đ, xã N, thành phố N mua của một người phụ nữ không rõ lai lịch 02 gói Heroine với giá 100.000 đồng mục đích để sử dụng cầm trong tay phải đi lên đường Lạc Long Quân thì bị Công an phát hiện, bắt giữ.
Đối với đối tượng đã bán gói ma túy cho Mai Văn L, Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an thành phố Nam Định đang tiến hành xác minh, nên tách ra tiếp tục điều tra xử lý sau.
Bản Cáo trạng số 100/CT-VKS ngày 13 tháng 3 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Mai Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999.
Tại phiên toà, bị cáo Mai Văn L khai: Ngày 26-12-2017, bị cáo đến khu vực chân cầu Đ, xã N, thành phố N mua của một người phụ nữ không rõ tên tuổi, địa chỉ 02 gói ma túy với giá 100.000 đồng cầm trong tay mang về để sử dụng thì bị Công an tỉnh Nam Định bắt giữ, thu giữ và niêm phong vật chứng, đồng thời tạm giữ của bị cáo 01 điện thoại di động Mastel màu đen (đã cũ), 123.000 đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam và 01 căn cước công dân mang tên Mai Văn L.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm g khoản 1 Điều 48, điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo từ 27 tháng 33 đến tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; không áp dụng hình phạt bổ sung; áp dụng Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm1999 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để xử lý vật chứng.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh trụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Nam Định, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Mai Văn L không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Về trách nhiệm hình sự: Bị cáo Mai Văn L khai, ngày 26-12-2017, bị cáo mua 02 gói Heroine cất giấu trong tay mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang. Bản Kết luận giám định số 1076/GĐKTHS ngày 28-12-2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng được niêm phong trưng cầu giám định là ma túy, loại ma túy là Heroine, có tổng khối lượng là 0,177 (không phẩy một trăm bảy mươi bảy) gam. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai người là chứng và các chứng cứ khác. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,177 gam Heroine mục đích để sử dụng, hành vi của bị cáo là cố ý, xâm phạm đến độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Do đó, bị cáo Mai Văn L đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999.
Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định là có căn cứ.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây mất trật tự an toàn xã hội, góp phần làm gia tăng tệ nạn ma túy, là nguyên nhân dẫn tới nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án nhưng vẫn tiếp tục phạm tội. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo L chưa được xóa án tích về tội “Cố ý gây thương tích” lại tiếp tục phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng là “Tái phạm” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định hình phạt nhẹ hơn quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì các quy định có lợi cho bị cáo được thực hiện theo Bộ luật Hình sự năm 2015. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù trong khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ quy định tại Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Số ma túy sau khi giám định hoàn lại là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy; các tài sản khác của bị cáo, xét không phải là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
Về án phí: Bị cáo Mai Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 194, điểm g khoản 1 Điều 48, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
1. Tuyên bố: Bị cáo Mai Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Mai Văn L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 26-12-2017.
2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy có trong phong bì niêm phong số 1076/GĐKTHS; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mastel, 123.000 đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam và 01 căn cước công dân mang tên Mai Văn L nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án (chi tiết vật chứng ghi trong Biên bản giao nhận vật chứng ngày 09-02-2018 giữa Công an thành phố Nam Định và Chi cục Thi hành án thành phố Nam Định).
3. Án phí: Bị cáo Mai Văn L phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Mai Văn L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND TP. Nam Định (02 bản); - TAND tỉnh Nam Định; - Công an TP. Nam Định; - Chi cục THADS TP. Nam Định; - Lưu hồ sơ vụ án + VP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Diện |