- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lâm Thị Minh Th. "Tổ chức Đánh bạc" - không phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 249 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên b các bị c o Lâm Thị Minh Th, Đinh Thị Liên Ph, Trịnh Thị H phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
- Căn cứ chính? luật T tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự
| TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ản n s : 88/2018/HS-PT Ngày: 15-11-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Kim Đồng
Các Thẩm phán:
Ông Huỳnh Văn Hiệp
Ông Huỳnh Châu Thạch
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Qu c Huy, Thư ký Tòa n nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: à Trần Thị Đào, Kiểm s t viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa n nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ n hình sự thụ lý s : 107/2018/TLPT-HS ngày 17-9-2018 đ i với c c bị c o Lâm Thị Minh Th cùng c c bị c o kh c; do kháng cáo của c c bị c o; đ i với bản n hình sự sơ thẩm ản n s : 24/2018/HS-ST ngày 30-7-2018 của Tòa n nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.
* Các bị cáo kháng cáo:
1. Họ và tên: Lâm Thị Minh Th, sinh năm 1963 tại tỉnh Lâm Đồng; nơi ĐKHKTT và cư trú: s nhà 42 HVT, tổ 7, thị trấn DL, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; qu c tịch: Việt Nam; con ông Lâm Y, (chết); con bà Đoàn Thị V, sinh năm 1937; chồng Nguyễn Tấn T sinh năm 1960; có 03 người con; con lớn sinh năm 1985; con nhỏ nhất sinh năm 1992.
Tiền n, tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản n s : 75/2008/HS-ST ngày 30-9-2008, Tòa n huyện Di Linh xử phạt 18 th ng tù cho hưởng n treo, thời gian thử th ch 36 th ng về tội “Đ nh bạc”; hiện đã được xóa n tích.
ị bắt tạm giam ngày 21-12-2017, đến ngày 04-5- 2018 được thay đổi biện ph p ngăn chặn “Cấm đi khởi nơi cư trú”; hiện bị c o tại ngoại. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Hồ Thị P, Văn phòng Luật sư LP, Đoàn Luật sư tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
2. Họ và tên: Đinh Thị Liên Ph, sinh năm 1970 tại tỉnh ình Dương; Nơi ĐKHKTT và cư trú: s nhà 801/15, HV, tổ dân ph 15, thị trấn DL, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Nha sỹ; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiên chúa; qu c tịch: Việt Nam; con ông Đinh Ngọc Ch; con bà Võ Thị T (Đều đã chết); chồng Nguyễn Văn L (đã ly hôn); có 02 người con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2001.
Tiền n, tiền sự: Không; ị bắt tạm giam ngày 21-12-2017, đến ngày 04-5-2018 được thay đổi biện ph p ngăn chặn “Cấm đi khởi nơi cư trú”; hiện bị c o tại ngoại. Có mặt.
3. Họ và tên: Trịnh Thị H, sinh năm 1976 tại tỉnh Thanh Hóa; Nơi ĐKHKTT và cư trú: s nhà 99 LTK, tổ dân ph 10, thị trấn DL, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; qu c tịch: Việt Nam; con ông Trịnh D (Liệt sỹ); con bà Trịnh Thị Th, sinh năm 1932; Chồng Lê Văn H, sinh năm 1969; có 03 người con, con lớn sinh năm 1995; con nhỏ sinh năm 2008.
Tiền n, tiền sự: Không. ị c o bị bắt tạm giam ngày 21-12-2017, đến ngày 04-5- 2018 được thay đổi biện ph p ngăn chặn “Cấm đi khởi nơi cư trú”; hiện bị cáo tại ngoại. Có mặt.
Trong vụ án này, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị Như Y không kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo c c tài liệu có trong hồ sơ vụ n và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ n được tóm tắt như sau:
Các bị cáo Th, bị cáo Ph, bị cáo H thực hiện hành vi “Tổ chức đánh bạc”, dưới hình thức ghi s đề qua tin nhắn điện thoại di động hoặc ghi trực tiếp trên phơ giấy; theo tỉ lệ nếu ghi 02 chữ s và trúng thì tỉ lệ thắng 70 lần, nếu ghi 03 chữ s và trúng thì tỉ lệ thắng 550 lần; nếu ghi 04 chữ s và trúng thì tỉ lệ thắng 4.000 lần, việc ghi đề nhận trước 16 giờ hàng ngày đ i với các tỉnh xổ s kiến thiết tỉnh Miền Nam, từ sau 16 giờ đến 18 giờ hàng ngày đ i với các tỉnh xổ s kiến thiết tỉnh Miền Bắc. Kết quả thắng thua sẽ căn cứ vào kết quả mở thưởng xổ s kiến thiết trong ngày và đ i chiếu s ghi đề cụ thể như sau:
- Đ i với bị cáo H nhận ghi s đề trực tiếp hoặc nhận qua tin nhắn qua diện thoại Samsung J5 màu vàng theo s điện thoại thuê bao là 0964336119 của những người chơi tại nhà bị cáo H, người chơi đề có thể đ nh lô đề, lô cu i hoặc bao s . Khi nhận phơ đề từ những người chơi, bị c o H sẽ lấy họ 80% s tiền trên phơ, 20% là tiền khuyến mãi cho người chơi sau đó tổng hợp và chuyển cho nhà c i bị c o Th và bị c o Ph với tỉ lệ 72% để nhận hoa hồng 8%. Ngoài ra, bị cáo H còn trực tiếp đ nh s đề và chuyển cho nhà c i bị c o Ph, bị c o Th.
Trong qu trình ghi đề, vào lúc 19 giờ 20 phút ngày 21-12-2017, bị c o H đang ngồi tính to n s tiền ghi s đề thì bị Cơ quan điều tra Công an huyện Di Linh bắt quả tang. Qua kiểm tra c c phơi đề và tin nhắn điện thoại di động s 0964336119 x c định bị cáo H đã ghi và đ nh đề chuyển cho nhà c i như sau:
Ngày 19-12-2017, bị cáo H đã nhận ghi s đề của V (Không rõ lai lịch) với tổng s tiền trên tin nhắn diện thoại di động 165.000đ tương đương 132.000đ. Đ i chiếu với kết quả xổ s kiến thiết ngày 19-12-2017 của tỉnh Vũng Tàu không trúng như vậy s tiền của bị c o H thu của V là 132.000đ. bị cáo H khai không nhớ chuyển nhà cái nào. S tiền sử dụng vào việc đ nh đề là 132.000đ.
Ngày 20-12-2017, bị cáo H đã chuyển phơ đề qua tin nhắn điện thoại cho bị c o Ph với tổng s tiền là 4.690.000đ, nhưng thực tế chỉ chuyển 72% của s tiền 4.690.000đ tương ứng 3.377.000đ. Đ i chiếu với kết quả xổ s kiến thiết ngày 20-12-2017 của tỉnh Đồng Nai phơ đề của bị c o H trúng 9.000.000đ; s tiền sử dụng vào việc đ nh đề là 13.690.000đ.
Ngày 21-12-2017, bị cáo H nhận ghi s đề trực tiếp tại nhà của 06 người khách vãng lai (Không xác định nhân thân, lai lịch) s tiền 7.630.000đ và nhận ghi s đề qua tin nhắn điện thoại của 04 người Lương, Đen, Vỹ và Nương (Không xác định nhân thân, lai lịch) với tổng s tiền 10.044.000đ. Tổng s tiền bị c o H nhận là 17.674.000đ. Ngoài ra bị c o H còn trực tiếp đ nh đề rồi chuyển cho nhà cái với s tiền là 558.000đ. Sau đó bị c o H tổng hợp và chuyển phơ đề qua tin nhắn cho bị c o Ph 12.120.000đ, chuyển cho bị c o Th s tiền 6.112.000đ.
Tổng s tiền bị c o H chuyển đi ngày 21-12-2017 là 18.232.000đ, s tiền trúng mà bị c o H chuyển đi là 9.800.000đ, trong đó phơ chuyển cho bị c o Th trúng 4.200.000đ; phơ của bị c o Ph trúng 5.600.000đ và tiền trúng của bị c o H tự ghi là 0 đồng.
S tiền thu lợi bất chính của H ngày 21-12-2017 là 17.674.000đ x 8% - 558.000đ =853.000đ. Tổng s tiền đ nh bạc ngày 21-12-2018 là 17.674.000đ + 9.800.000đ=27.474.000đ. Trong ngày 21- 12-2017 bị c o H mới chỉ nhận tiền ghi kh ch vãng lai đến ghi trực tiếp còn tiền ghi đề từ người chơi qua tin nhắn điện thoại, tiền chuyển s đề cho nhà cái và tiền thắng thua do bị bắt nên các bên chưa thanh to n với nhau.
- Đ i với bị cáo Lâm Thị Minh Th: Vào lúc 18 giờ ngày 21-12-2017 khi bị cáo Th đang ngồi tổng hợp c c phơ ghi s đề thì bị Cơ quan điều tra Công an huyện Di Linh kiểm tra bắt quả tang. Qu trình điều tra x c định bị cáo bị c o Th dùng điện thoại di động NKIA 230 màu đen có gắn sim liện lạc 01284016726 để nhận phơ đề qua tin nhắn của c c thư ký đề chuyển đến hoặc trực tiếp nhận ghi đề của khách, khi nhận phơ đè từ thú ký đề hoặc người chơi, bị c o Th sẽ lấy của họ 72% s tiền chơi, bị c o Th không chuyển cho ai khác mà trực tiếp giữ lại để ăn thua với người đ nh đề.
Ngày 21-12-2017, bị c o Th đã nhận ghi s đề của 09 người với tổng s tiền trên phơ và tin nhắn điện thoại là 26.805.000đ (Trong đó nhận của bị cáo H số tiền 6.112.000.000đ; Trần Thị Như Y số tiền 215.000đ và các đối tượng Sỹ, Tài, Lý, Hương, Yến, Hoa và Mây không xác định được nhân thân lai lịch) với tổng s tiền trên phơ và tin nhắn điện thoại là 20.478.000đ. Trong đó tiền trúng của bị c o H 4.200.000đ còn lại trúng của c c đ i tượng khác không rõ lai lịch. S tiền đ nh bạc của bị c o Th là 26.805.000đ + 11.200.000đ = 38.005.000đ, s tiền thu lợi bất chính là 8.099.000đ.
- Đ i với bị cáo Ph: Căn cứ vào lời khai của bị c o H, Cơ quan điều tra công an huyện Di Linh tiến hành thu giữa kiểm tra điện thoại di động Samsung màu vàng gắn sim liên lạc 0919870936 của bị c o Ph chứa các nội dung liên quan đến việc ghi s đề nên đã tiến hành bắt khẩn cấp đ i với Ph. Qu trình điều tra x c định bị c o Ph đã dùng điện thoại di động Samsung gắn sim liên lạc 0919870936 để nhận phơ đề qua tin nhắn của những thư ký đề chuyển đến của đài xổ s kiến thiết các tỉnh Miền Bắc và đài xổ s kiến thiết các tỉnh Miền Nam. Bị cáo Ph không chuyển cho ai khác mà trực tiếp giữ lại để ăn thua với người đ nh đề thông qua c c thư ký đề. Khi nhận phơ từ c c thư ký đề, bị c o Ph lấy của họ 70% s tiền phơ, riêng bị c o H thì bị c o Ph thu 72% s tiền trên phơ. Tuy nhiên, có trường hợp tin nhắn chuyển tới thấy quá khả năng nhận đề bị cáo Ph có thể nhắn tin trả bớt lại s ghi (Không nhận số) hoặc chỉ nhận ½ hoặc 1/3 trên tổng s tiện ghi và bị c o Ph chỉ chịu trách nhiệm s tiền đã nhận này.
Ngày 20-12-2017 bị c o Ph đã nhận ghi s đề của 02 người gồm: Nhận của bị c o H s tiền 4.690.000đ x 72% = 3.337.000đ. Căn cứ vào kết quả thắng thua trong ngày, s tiền trúng là 9.000.000đ; Nhận của Trân (Chưa rõ lai lịch) s tiền 442.000đ x 70% = 309.000đ. Căn cứ vào kết quả thắng thua trong ngày là 0 đồng. Tổng s tiền đ nh bạc của bị c o Ph ngày 20-12-2017 là 14.132.000đ cụ thể s tiền thực thu 3.686.000đ, s tiền trúng 9.000.000đ thua (lỗ) 5.314.000đ.
Ngày 21-12-2017 bị c o Ph đã nhận ghi s đề của 04 người gồm: Nhận của bị c o H s tiền 12.120.000đ x 72% = 8.726.000đ. Căn cứ vào kết quả thắng thua trong ngày, s tiền trúng là 5.600.000đ; Nhận của Hiền (Chưa rõ lai lịch) s tiền 6.479.000đ x 70% = 4.535.000đ. Căn cứ vào kết quả thắng thua trong ngày trúng 3.853.000đ. Nhận của Trân (Chưa rõ lai lịch) s tiền 5.948.000đ x 70% = 4.163.000đ. Căn cứ vào kết quả thắng thua trong ngày s tiền trúng là 4.550.000đ. Nhận của Lan (Chưa rõ lai lịch) s tiền 22.855.000đ x 70% = 15.999.000đ. Căn cứ vào kết quả thắng thua trong ngày s tiền trúng là 26.090.000đ.
Tổng s tiền đ nh bạc của bị c o Ph ngày 21-12-2017 là 87.402.000đ cụ thể s tiền thực thu 33.423.000đ, s tiền trúng 40.093.000đ; thua (lỗ) 6.670.000đ. Toàn bộ s trong ngày 21-12-2017 do bị bắt nên giữa bị c o Ph và thư ký đề chưa thanh to n với nhau.
Tại Bản n s : 24/2018/HS-ST ngày 30-7-2018 của Tòa n nhân dân huyện Di Linh đã tuyên b c c bị c o Lâm Thị Minh Th, bị c o Đinh Thị Liên Ph, bị cáo Trịnh Thị H phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 28, Điều 33, Điều 45, điểm p khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 249 của ộ luật hình sự năm 1999 đ i với c c bị c o Th, bị cáo Ph, bị c o H. ị c o Th, bị c o H được p dụng khoản 2 Điều 46 của ộ luật hình sự năm 1999; bị c o Ph, bị c o H bị p dụng thêm điểm g khoản 1 Điều 48 của ộ luật hình sự năm 1999; Xử phạt:
- ị c o Lâm Thị Minh Th 12 tháng tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam để thi hành n, được trừ thời hạn bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24-12-2017 đến ngày 04-5-2018.
- ị c o Trịnh Thị H 12 th ng th ng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam để thi hành n, được trừ thời hạn đó bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24-12-2017 đến ngày 04-5-2018.
- ị c o Đinh Thị Liên Ph 15 th ng th ng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam để thi hành n, được trừ thời hạn đó bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24-12-2017 đến ngày 04-5-2018.
Ngoài ra, Bản n còn buộc c c bị c o nộp s tiền thu lợi bất chính; xử lý vật chứng; tuyên quyền kh ng c o theo quy định ph p luật.
Ngày 02-8-2018 bị c o Đinh Thị Liên Ph, Lâm Thị Minh Th kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, được hưởng n treo. ị c o Ph xuất trình giấy hộ nghèo; bị cáo Th xuất trình giấy xác nhận khuyết tật của chồng, bằng khen kháng chiến của b bị c o.
Ngày 03-8-2018 bị cáo Trịnh Thị H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, được hưởng n treo, xuất trình sổ cận nghèo.
Tại phiên tòa phúc thẩm; c c bị c o giữ nguyên yêu cầu kh ng c o đề nghị Tòa n xem xét chấp nhận. ị c o H xuất trình tài liệu hộ cận nghèo, bị c o Th xuất trình tài liệu Liệt sĩ Trần Văn M là cậu bị c o; đồng thời xuất trình biên lai đã nộp s tiền thu lợi bất chính theo Bản n sơ thẩm; bị c o Ph xuất trình ản n ly hôn giữa bị c o và ông L, theo đó chứng minh bị c o trực tiếp nuôi 02 con, trong đó có 01 con sinh 2001.
Đại diện Viện kiểm s t nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của ộ luật t tụng hình sự; chấp nhận kh ng c o của c c bị c o; không p dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội nhiều lần” đ i với bị c o Ph, bị c o H; Áp dụng Điều 65 của bộ luật hình sự; cho c c bị c o được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ t c dụng gi o dục bị c o và phòng ngừa chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ n, căn cứ vào c c tài liệu trong hồ sơ vụ n đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Các bị cáo Th, bị cáo Ph, bị cáo H thực hiện hành vi “Tổ chức đánh bạc”, dưới hình thức ghi s đề, trong đó bị cáo Th, bị cáo Ph nhà cái, bị cáo H tay em ghi đề chuyển cho nhà cái bị cáo Th, bị cáo Ph. Đến lúc 19 giờ 20 phút ngày 21-12-2017 bị c o H đang ngồi tính to n s tiền ghi s đề thì bị Cơ quan Công an huyện Di Linh bắt quả tang.
Qu trình điều tra x c định bị c o H tay em ghi s đề chuyển cho nhà cái bị cáo Th, bị cáo Phvới s tiền cộng chung là 32.054.000; Đ i với bị cáo Th nhà cái nhận phơ đề của bị cáo Hu, nhận phơ đề của đ i tượng tên Ý và đ i tượng Sỹ, Tài, Lý, Hương, Yến, Hoa và Mây không x c định được nhân thân lai lịch với tổng s tiền 37.332.000đ; bị cáo Ph cũng là nhà c i nhận phơ đề của bị c o H và c c đ i tượng Trân, Lan chưa rõ lai lịch tổng s tiền 73.516.000đ. Đ i chiếu lời khai của các bị c o, người liên quan, biên bản phạm tội quả tang. Tòa n cấp sơ thẩm đ nh gi toàn diện chứng cứ, x c định chủ đề bị c o Th, bị c o Ph; tay em bị c o H; đã tuyên b các bị c o Th, bị cáo Ph, bị cáo H phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 1999 là có căn cứ.
Xét kh ng c o của c c bị c o, đ i chiếu với tài liệu hồ sơ vụ n thể hiện các bị c o Ph, bị c o H bị p dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội nhiều lần” là không đúng và gây bất lợi cho c c bị c o. ởi lẽ, điểm c khoản 2 Điều 1 Nghị quyết s 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22-10-2010 của Hội đồng thẩm ph n Tòa n nhân dân t i cao (Sau đây viết tắt NQ 01/2010/NQ-HĐTP) hướng dẫn tội “Đánh bạc” mức t i thiểu từ 5.000.000đ trở lên; trong khi đó điểm c khoản 1 Điều 2 NQ 01/2010/NQ-HĐTP hướng dẫn tội “Tổ chức đánh bạc” quy mô lớn mức t i thiểu từ 20.000.000đ trở lên. Do vậy, tuy bị c o Ph, bị c o H thực hiện hành vi 03 ngày nhưng mỗi ngày không đủ 20.000.000đ, nên không thuộc trường hợp phạm tội nhiều lần. Do vậy, cần sửa Bản n sơ thẩm, không p dụng tình tiết tăng nặng này đ i với c c bị c o Ph, bị c o H.
Về tình tiết giảm nhẹ, cấp sơ thẩm đã p dụng cho c c bị c o Th, bị c o Ph, bị c o H tình tiết giảm nhẹ điểm p khoản 1 Điều 46 ộ luật hình sự năm 1999 (Tương ứng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015). ị c o H có b ruột là liệt sỹ, cấp sơ thẩm p dụng khoản 2 Điều 46 của bộ luật hình sự năm 1999 (Tương ứng khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015) là bất lợi cho bị c o, nên p dụng điểm x khoản 1 Điều 51 của ộ luật hình sự năm 2015.
- Đ i với bị c o H được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định khoản 1 Điều 51 của ộ luật hình sự năm 2015. Mặt kh c, cấp sơ thẩm chưa áp dụng Điều 17, 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 để phân hóa vai trò đồng phạm, trong khi đó bị cáo H tay em ghi đề chuyển cho nhà cái bị cáo Th, bị cáo Ph; cấp sơ thẩm quyết định hình phạt bị cáo H bằng bị cáo Th là không đúng. Ngoài ra, nhân thân bị c o chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng và được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ quy định khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự. Do vậy cần chấp nhận kh ng c o của bị c o; sửa Bản n sơ thẩm, giảm một phần hình phạt cho bị c o; p dụng Điều 65 của ộ luật hình sự năm 2015 cho bị c o được cải tạo ngoài xã hội, dưới sự gi m s t gi o dục của chính quyền địa phương và gia đình, không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội như đại diện Viện kiểm s t đề nghị là có căn cứ.
- ị c o Th có b ruột là người có công c ch mạng, cũng đã được p dụng khoản 2 Điều 46 của ộ luật hình sự năm 1999 (Tương ứng khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015). Tại phiên tòa, bị c o xuất trình giấy x c nhận chồng bị c o (ông T) bị khuyết tật nặng. ên cạnh đó, tuy nhân thân bị c o đã bị kết n nhưng đến nay đã 10 năm, nếu buộc bị c o phải chấp hành hình phạt tù sẽ ảnh hưởng đến cuộc s ng gia đình bị c o, trong khi đó bị c o không bị p dụng tình tiết tặng nặng, được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ, trong đó có một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của ộ luật hình sự, một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của ộ luật hình sự. Mặt kh c, bị c o thật sự ăn năn thực hiện việc nộp s tiền thu lợi bất chính theo ản n sơ thẩm tuyên (biên lai thu s AA/2017/0002004). Do vậy, cần chấp nhận kh ng c o của bị c o; sửa Bản n sơ thẩm, p dụng Điều 65 của ộ luật hình sự năm 2015 cho bị c o được cải tạo ngoài xã hội, dưới sự gi m s t gi o dục của chính quyền địa phương và gia đình, không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội như đại diện Viện kiểm s t đề nghị là có căn cứ.
- Đ i với bị c o Ph hiện đang nuôi con dưới 18 tuổi, nếu buộc bị c o phải chấp hành hình phạt tù sẽ ảnh hưởng đến việc nuôi dưỡng con chưa thành niên, nên cần p dụng khoản 2 Điều 51 của ộ luật hình sự. Do bị c o không bị p dụng tình tiết tặng nặng, được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ, trong đó có một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của ộ luật hình sự, một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của ộ luật hình sự. Do vậy, cần chấp nhận kh ng c o của bị c o; sửa Bản n sơ thẩm, p dụng Điều 65 của ộ luật hình sự năm 2015 cho bị c o được cải tạo ngoài xã hội, dưới sự gi m s t gi o dục của chính quyền địa phương và gia đình, không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội như đại diện Viện kiểm s t đề nghị là có căn cứ.
Vụ n được xét xử th ng 7-2018 thời điểm hiệu lực của ộ luật hình sự năm 2015, trong khi đó cấp sơ thẩm vẫn p dụng tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ theo quy định của ộ luật hình sự năm 1999 là không đúng cần rút kinh nghiệm chung.
Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận, nên c c bị c o không phải chịu n phí hình phục phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của ộ luật t tụng hình sự. Chấp nhận kh ng c o của các bị c o Trịnh Thị H; Lâm Thị Minh Th, Đinh Thị Liên Ph; sửa Bản n sơ thẩm; Xử:
1. Tuyên b các bị c o Lâm Thị Minh Th, Đinh Thị Liên Ph, Trịnh Thị H phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 249 của ộ luật hình sự năm 1999; điểm s khoản 1 Điều 51 của ộ luật hình sự năm 2015 đ i với c c bị c o Th, bị c o Ph bị c o H. ị c o H được áp dụng thêm điểm x khoản 1 Điều 51; Điều 17, 58 của ộ luật hình sự năm 2015. ị c o Th, bị c o Ph được p dụng thêm khoản 2 Điều 51 của ộ luật hình sự năm 2015. C c bị c o Th, bị c o Ph bị c o H được p dụng Điều 65 của ộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt:
- ị c o Lâm Thị Minh Th 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng n treo, thời gian thử th ch 24 th ng tính từ ngày tuyên n phúc thẩm.
- ị c o Đinh Thị Liên Ph 15 (Mười lăm) tháng tháng tù cho hưởng n treo, thời gian thử th ch 24 th ng tính từ ngày tuyên n phúc thẩm.
- ị c o Trịnh Thị H 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng n treo thời gian thử th ch 12 th ng tính từ ngày tuyên n phúc thẩm.
Giao các bị cáo Trịnh Thị H, Lâm Thị Minh Th, Đinh Thị Liên Ph cho Ủy ban nhân dân thị trấn DL, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án. Trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì việc Thi hành án thực hiện theo qui định tại khoản 1 điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 ộ luật T tụng hình sự; Nghị quyết s 326/2016/U TVQH14 ngày 30 th ng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Qu c hội. Các bị c o Lâm Thị Minh Th; bị c o Đinh Thị Liên Ph; Bị cáo Trịnh Thị H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. C c quyết định kh c của bản n sơ thẩm không có kh ng c o, kh ng nghị đã có hiệu lực ph p luật kể từ ngày hết hạn kh ng c o, kh ng nghị.
ản n phúc thẩm có hiệu lực ph p luật kể từ ngày tuyên n.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT I - TANDTC; - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - TAND, VKSND huyện Di Linh; - Cơ quan điều tra Công an Di Linh; - Phòng KTNV&THA; - Sở Tư ph p tỉnh Lâm Đồng; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; Án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Kim Đồng |