vanban.org

Bản án 88/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H. Bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Đức H1.

Về con chung: Giao 02 người con chung tên Nguyễn Lam GH, sinh ngày 23/8/2007 và Nguyễn Nguyễn TA, sinh ngày 31/5/2013 cho bà Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Nguyễn Đức H1 tạm thời không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BA - LH - Hồng - Đức - T11-2018"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H. Bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Đức H1.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BOM
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 14-11-2018.
V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con
chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bá Đức.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Doãn Đức Hùng,

2. Ông Trần Xuân Tiến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Kiều Diễm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 657/2018/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2018 về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên toàn số: 81/2018/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1991.

Địa chỉ: ấp TV, xã BH, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Đức H1, sinh năm 1982.

Địa chỉ: ấp Bàu Cá, xã TH, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

(Bà H, ông H1 vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:

Bà H và ông Nguyễn Đức H1 tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào năm 2010 và được UBND xã BH, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 08/6/2010. Sau quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do lối sống tính cách không phù hợp, luôn bất đồng quan điểm, không chia sẻ được với nhau trong cuộc sống, có những lời lẽ xúc phạm, tH1 tôn trọng nhau. Nay tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên bà H xin ly hôn với ông H1.

Về con chung: ông bà có 02 con chung tên Nguyễn Lam GH, sinh ngày 23/8/2007 và cháu Nguyễn Nguyễn TA, sinh ngày 31/5/2013. Khi ly hôn bà H yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả 02 con chung và tạm thời không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Tự hai bên thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có nợ chung.

* Bị đơn ông Nguyễn Đức H1 vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án được tiến hành theo quy định pháp luật. Đối với việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Nguyễn Thị H. Cho bà H được ly hôn với ông Nguyễn Đức H1.

Về con chung: Giao cho bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung tên Nguyễn Lam GH, sinh ngày 23/8/2007 và cháu Nguyễn Nguyễn TA, sinh ngày 31/5/2013. Tạm thời ông H1 không phải cấp dưỡng nuôi con do bà H không có yêu cầu.

Về tài sản chung và nợ chung: Do không có ý kiến trình bày của ông H1 nên tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016 buộc bà H phải nộp án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

1.1. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong vụ án, yêu cầu khởi kiện và quy định pháp luật, “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” thuộc trường hợp quy định tại Điều 28; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom thực hiện thủ tục thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.

1.2. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt; đối với bị đơn ông Nguyễn Đức H1 đã được Tòa án đã tiến hành triệu tập nhiều lần để làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử nhưng ông H1 vắng mặt không có lý do nên Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Đức H1 tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào năm 2010 và được Ủy ban nhân dân xã BH, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 59/2010 ngày 08/6/2010 nên là hôn nhân hợp pháp.

Bà H xác định vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do tính tình của hai vợ chồng không hợp nhau, bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã. Vợ chồng đã nhiều lần tìm cách hàn gắn nhưng không đạt được. Ngoài ra, Tòa án đã tiến hành triệu tập ông H1 nhiều lần để làm việc, hòa giải và xét xử nhưng ông H1 vẫn vắng mặt không có lý do thể hiện thái độ bỏ mặc mối quan hệ hôn nhân trên. Xét thấy, vợ chồng bà H, ông H1 không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình nên tình trạng hôn nhân giữa bà H, ông H1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, bà H xin ly hôn với ông H1 là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về con chung: Bà H, ông H1 có 02 người con chung tên Nguyễn Lam GH, sinh ngày 23/8/2007 và Nguyễn TA, sinh ngày 31/5/2013. Hội đồng xét xử xét thấy các con còn nhỏ cần sự chăm sóc, dạy dỗ của mẹ nhiều hơn cũng như nguyện vọng của cháu Huy muốn được ở với mẹ nên giao 02 người con chung cho bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.

. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H không yêu cầu nên tạm thời ông H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

. Về tài sản chung và nợ chung: Do không có ý kiến trình bày của ông H1 nên tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu.

. Về quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

. Về án phí: bà H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 203, Điều 220, Điều 227, Điều 228, Điều 264, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H. Bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Đức H1.

2. Về con chung: Giao 02 người con chung tên Nguyễn Lam GH, sinh ngày 23/8/2007 và Nguyễn Nguyễn TA, sinh ngày 31/5/2013 cho bà Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Nguyễn Đức H1 tạm thời không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

4. Về tài sản chung và nợ chung: Tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu.

5. Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tại biên lai thu số 000910 ngày 04/9/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom.

6. Về quyền kháng cáo: Bà H, ông H1 vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Cỡ chữ