vanban.org

Bản án 88/2018/HC-PT — Hành chính

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 12/04/2018 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/04/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bác kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện là bà Phan Thị Xuân L và giữ nguyên quyết định của bản án hành chính sơ thẩm số 58/2017/HC-ST ngày 07/8/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn B: Buộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện CĐ phải xem xét xử lý đơn khiếu nại đối với các đơn khiếu nại ngày 25/8/2015 và 26/10/2015 của ông B đã nộp tại Ủy ban nhân dân huyện CĐ. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn B: Về việc yêu cầu buộc Ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Nguyễn Văn B kiện Cgủ tịch Ủy ban nhân dân huyện CĐ"
  • Tòa quyết gì? Bác kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện là bà Phan Thị Xuân L và giữ nguyên quyết định của bản án hành chính sơ thẩm số 58/2017/HC-ST ngày 07/8/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
  • Căn cứ chính? Luật khiếu nại; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 241 Luật tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2018/HC-PT
Ngày 12-4-2018
V/v Khiếu kiện quyết định giải quyết
tranh chấp đất đai; Hành vi không giải quyết
đơn khiếu nại; Yêu cầu bồi thường thiệt hại
do hành vi hành chính gây ra.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Quốc Khởi

Các Thẩm phán:

Ông Trần Văn Mười

Bà Đinh Ngọc Thu Hương

- Thư ký phiên tòa: Ông Thới Ngọc Bắc, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 312/2017/TLPT-HC ngày 04 tháng 10 năm 2017 về việc “Khiếu kiện quyết định giải quyết tranh chấp đất đai, hành vi không ra quyết định giải quyết khiếu nại và yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi hành chính gây ra”.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 58/2017/HC-ST ngày 07 tháng 8 năm 2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 60/2018/QĐ-PT ngày 04 tháng 01 năm 2018, giữa các đương sự:

- Người khởi kiện: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1942, (vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp 5, xã LS, huyện CĐ, tỉnh Long An.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phan Thị Xuân L, sinh năm 1961;

Địa chỉ: Ấp 3, xã LS, huyện CĐ, tỉnh Long An (theo giấy ủy quyền ngày 19/5/2017), (có mặt).

- Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện CĐ, tỉnh Long An.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Văn Quang H- Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện CĐ, tỉnh Long An (theo văn bản ủy quyền ngày 31/5/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện CĐ), (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị L1, sinh năm 1956;

Địa chỉ: Ấp 5, xã LS, huyện CĐ, tỉnh Long An, (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà L1: Luật sư Nguyễn Thị C

- Văn phòng Luật sư Nguyễn Thị C, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Long An, (có mặt).

- Người kháng cáo: Bà Phan Thị Xuân L là người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn B và trong quá trình giải quyết vụ án của bà Phan Thị Xuân L là người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện trình bày:

Ngày 16/11/2015, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện CĐ ban hành Quyết định số 2262/QĐ-CT về việc giải quyết tranh chấp đất đai giữa ông Nguyễn Văn B và bà Trần Thị L1, đất tọa lạc tại ấp 5, xã LS, huyện CĐ, tỉnh Long An. Nhận thấy quyết định này ảnh hưởng đến quyền lợi của ông B, ông B không có tranh chấp với bà L1, nên Ủy ban nhân dân huyện CĐ ra quyết định giải quyết tranh chấp là không đúng nên ông B khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét hủy quyết định này. Đồng thời, yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện CĐ phải giải quyết 02 đơn khiếu nại ngày 25/8/2015 và 26/10/2015 của ông B, yêu cầu bồi thường tổn thất thiệt hại với số tiền 16.980.000 đồng.

Tại Văn bản 357/UBND-TD ngày 07/6/2017 của Ủy ban nhân dân huyện CĐ về việc ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn B:

Ngày 16/11/2015, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện CĐ ban hành Quyết định số 2262/QĐ-CT về việc giải quyết tranh chấp đất đai giữa ông B với bà L1, có nội dung công nhận quyền sử dụng đất thửa số 2836, tờ bản đồ số 02, diện tích 472m2 cho bà L1. Lý do phần đất này là của bà Nguyễn Thị H1 (mẹ của ông B) cho ông Phạm Như N và ông Trần Minh T từ năm 1975. Đến năm 2000, ông N giao phần đất của ông cho ông T quản lý canh tác. Năm 2012, ông T chết, vợ ông T là Trần Thị L1 tiếp tục quản lý canh tác đến nay.

Kể từ khi Quyết định số 2262/QĐ-CT được công bố đến ngày 20/7/2016, Ủy ban nhân dân huyện CĐ không tiếp nhận khiếu nại nào của ông B đối với Quyết định 2262/QĐ-CT nên ngày 20/7/2016, Ủy ban nhân dân huyện ban hành Quyết định số 1192/QĐ-UBND cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Trần Thị L1 đối với thửa 2826. Các yêu cầu khởi kiện của ông B là không có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị L1 trình bày:

Bà là người trực tiếp quản lý canh tác thửa số 2826, tờ bản đồ số 02 đất mà ông B tranh chấp. Phần đất này có nguồn gốc là của bà ngoại chồng Lê Thị Lựa và dì Nguyễn Thị H1 (mẹ của ông B) cho chồng bà là Trần Minh T với ông Phạm Như N (ông T 300m2, ông N 200m2). Vợ chồng bà và ông N trực tiếp canh tác từ năm 1975 đến năm 2000, do ông N dời nhà về CĐ ở nên giao cho vợ chồng bà toàn quyền sử dụng đến năm 2012, chồng bà chết, bà tiếp tục canh tác không ai tranh chấp. Ngày 19/5/2014, bà xin đo đạc và xin cấp giấy thì hộ có thửa đất giáp ranh là con ông B có ký tên, gia đình ông B đều biết mà không có ý kiến gì. Sau khi bà nhận bản vẽ và xin cấp giấy thì ông B khiếu nại đòi bà trả 500m2 đất, do đất này bà ngoại chồng bà cho mẹ bà thuê trước ngày hòa bình chứ không có cho, bà không đồng ý nên ngày 09/10/2014, Ủy ban nhân dân xã LS lập biên bản hòa giải không thành.

Ông N đã làm giấy tay cho bà 200m2, sau đó bà làm thủ tục và ngày 04/8/2015, bà gửi đơn đề nghị công nhận quyền sử dụng đất thửa 2836 cho bà nhưng vì ông B đang khiếu nại nên Ủy ban nhân dân huyện tiếp tục giải quyết tranh chấp đất, bác đơn khiếu nại của ông B và công nhận quyền sử dụng đất cho bà. Ông B tiếp tục khiếu nại. Tất cả các đơn khiếu nại ngày 23/4/2015, 24/4/2015, 29/5/2015, 10/6/2015 và 05/8/2015, tuy tiêu đề là khiếu nại hành vi hành chính nhưng thực chất đều có cùng nội dung là đăng ký xin được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bổ sung thửa 2826. Cho nên Ủy ban nhân dân huyện CĐ ban hành Quyết định số 2262/QĐ-CT là hoàn toàn đúng quy định, đề nghị Tòa án xem xét bác yêu cầu khởi kiện của ông B.

Tại Bản án sơ thẩm số 58/2017/HC-ST ngày 07/8/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An quyết định:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn B. Buộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện CĐ phải xem xét xử lý đơn khiếu nại đối với các đơn khiếu nại ngày 25/8/2015 và 26/10/2015 của ông B đã nộp tại Ủy ban nhân dân huyện CĐ.

Bác yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu buộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện CĐ bồi thường thiệt hại cho ông B với số tiền 16.980.000 đồng (Mười sáu triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng).

Đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu hủy Quyết định số 2262/QĐ-CT ngày 16/11/2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện CĐ về việc giải quyết tranh chấp đất đai giữa ông Nguyễn Văn B và bà Trần Thị L1, đất tọa lạc tại ấp 5, xã LS, huyện CĐ, tỉnh Long An.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 10 và 23 tháng 8 năm 1017, người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn B là bà Phan Thị Xuân L kháng cáo. Bà L yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm vì bà không đồng ý quyết định của bản án về việc bác yêu cầu khởi kiện buộc Ủy ban nhân dân bồi thường thiệt hại và đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện Quyết định số 2262/QĐ-CT ngày 16/11/2015.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn B là bà Phan Thị Xuân L vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; Những người tham gia tố tụng không thỏa thuận được với nhau về phương thức giải quyết vụ án và đề nghị Tòa án căn cứ pháp luật giải quyết.

Tại phiên tòa phúc thẩm không ai cung cấp thêm tài liệu chứng cứ mới; Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phân tích đánh giá chứng cứ cho rằng kháng cáo của bà Phan Thị Xuân L là người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn B không có căn cứ; nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo, giữ y bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ ý kiến của các bên đương sự và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về thẩm quyền giải quyết: Tòa án nhân dân tỉnh Long An xác định yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn B đối với Quyết định số 2262/QĐ-CT ngày 16/11/2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện CĐ; hành vi của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện CĐ không xem xét giải quyết đơn khiếu nại ngày 25/8/2015 và ngày 26/10/2015; đồng thời yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện CĐ bồi thường tổn thất thiệt hại là 16.980.000 đồng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Long An là đúng theo quy định tại khoản 4 Điều 32 của Luật tố tụng hành chính.

Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 18/02/2017, ông B nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An đối với Quyết định số 2262/QĐ-CT ngày 16/11/2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện CĐ. Ông B được Ủy ban nhân dân xã LS, huyện CĐ công bố Quyết định số 2262/QĐ-CT vào ngày 23/11/2015. Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 thì: “2. Thời hiệu khởi kiện đối với từng trường hợp được quy định như sau: a) 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc”. Theo đó, ngày 18/02/2017 ông B khởi kiện Quyết định số 2262/QĐ-CT tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An là đã quá 01 năm. Ông B không chứng minh được việc khởi kiện không đúng thời hiệu của ông có phải vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan hay không, để không tính vào thời hiệu khởi kiện. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã đình chỉ đối với yêu cầu hủy Quyết định số 2262/QĐ-CT do hết thời hiệu là có căn cứ.

Đối với yêu cầu bồi thường tổn thất thiệt hại gồm tiền chi phí đi lại, gửi đơn khiếu nại, đơn khởi kiện và thiệt hại về tinh thần với số tiền là 16.980.000 đồng. Theo Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thì không quy định phải bồi thường trong trường hợp nêu trên. Mặt khác, yêu cầu khởi kiện đối với Quyết định số 2262/QĐ-CT của ông B không được chấp nhận nên Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận buộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện CĐ bồi thường thiệt hại số tiền 16.980.000 đồng.

Từ những phân tích trên, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bà Phan Thị Xuân L là người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn B. Cần giữ nguyên quyết định của bản án hành chính sơ thẩm, theo như quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.

Các phần khác của quyết định bản án hành chính sơ thẩm do không bị kháng cáo, kháng nghị được giữ nguyên;

Ông Nguyễn Văn B phải chịu án phí phúc thẩm hành chính theo quy định;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 241 của Luật tố tụng hành chính;

- Áp dụng Luật khiếu nại năm 2011;

- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bác kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện là bà Phan Thị Xuân L và giữ nguyên quyết định của bản án hành chính sơ thẩm số 58/2017/HC-ST ngày 07/8/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

1. Tuyên xử:

- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn B: Buộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện CĐ phải xem xét xử lý đơn khiếu nại đối với các đơn khiếu nại ngày 25/8/2015 và 26/10/2015 của ông B đã nộp tại Ủy ban nhân dân huyện CĐ.

- Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn B: Về việc yêu cầu buộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện CĐ phải bồi thường thiệt hại cho ông Nguyễn Văn B số tiền 16.980.000 đồng (Mười sáu triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng).

- Đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu của ông Nguyễn Văn B: Về việc yêu cầu hủy Quyết định số 2262/QĐ-CT ngày 16/11/2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện CĐ về việc giải quyết tranh chấp đất đai giữa ông Nguyễn Văn B và bà Trần Thị L1, đất tọa lạc tại ấp 5, xã LS, huyện CĐ, tỉnh Long An.

2. Về án phí:

- Án phí hành chính sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn B phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Ông B đã nộp tạm ứng 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0000886 ngày 18/5/2017 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An được chuyển thu án phí hành chính sơ thẩm.

- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn B phải chịu 849.000 (Tám trăm bốn mươi chín nghìn đồng).

- Án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn B phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Ông B đã nộp tạm ứng 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0009818 ngày 28/8/2017 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An được chuyển thu án phí hành chính phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ