vanban.org

Bản án 876/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39, khoản 4 Điều 147 và Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 9, 14, 51, 53, 56, 81, 82, 83, 84 và Điều 85 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 26 của Luật thi hành án dân sự năm 2008; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy…

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị Bích T và anh Nguyễn Thái H. Giấy chứng nhận kết hôn số 34, quyển số 01/2014 do Ủy ban nhân dân Phường 4, Quận 6 cấp ngày 29/4/2014 không còn giá trị kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 39, khoản 4 Điều 147 và Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 9, 14, 51, 53, 56, 81, 82, 83, 84 và Điều 85 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 26 của Luật thi hành án dân sự năm 2008; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy…
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 876/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 27/11/2019
V/v “Ly hôn giữa chị T và anh H”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Trúc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phan Thị Lan

2. Bà Võ Thị Xuân Đào

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Xuân Thảo – Thư ký Toà án nhân dân

Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dịu Thùy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 6,

Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số

543/2019/TLST-HNGĐ ngày 01/8/2019 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa

vụ án ra xét xử số: 496/2019/QĐXX-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2019 và

Quyết định hoãn phiên tòa số 183/2019/QĐST-HPT ngày 11 tháng 11 năm 2019

giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Bích T, sinh năm 1987 – Có mặt.

Thường trú: 234/27/3 đường P, phường B, quận S, Thành phố Hồ Chí

Minh.

Tạm trú: 439/46/7/10 đường H, khu phố H, phường A, quận B, Thành phố

Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thái H, sinh năm 1986 – Vắng mặt.

Địa chỉ: 234/27/3 đường P, phường B, quận S, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn nộp ngày 22/7/2019 và trong quá trình xét xử,

nguyên đơn chị Trần Thị Bích T trình bày: Chị và anh Nguyễn Thái H tự nguyện

chung sống với nhau năm 2012, đến năm 2014 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân

dân Phường 4, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 34, quyển số 01/2014, cấp ngày 29/4/2014), có 01 con chung tên Nguyễn Đức T, sinh ngày 11/11/2015.

Sau khi cưới, vợ chồng chung sống tại nhà của gia đình anh Nguyễn Thái

H. Thời gian đầu, vợ chồng sống hạnh phúc. Đến cuối năm 2015 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình cả hai không hòa hợp, gia đình hai bên đều có nhiều mâu thuẫn không thể giải quyết được. Hai vợ chồng đã nhiều lần cố gắng hòa giải nhưng không có kết quả. Từ đó, mâu thuẫn càng ngày càng trầm trọng, thường xuyên xảy ra cãi vã, tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt và đã sống ly thân. Từ tháng 02/2017, chị T đã dọn ra ngoài ở riêng cho đến nay. Chị Trần Thị Bích T xác định không còn tình cảm nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn anh Nguyễn Thái H.

Về con chung: Chị Trần Thị Bích T yêu cầu được nuôi dưỡng, giáo dục

con chung tên Nguyễn Đức T, sinh ngày 11/11/2015. Việc cấp dưỡng nuôi con do hai bên tự thỏa thuận thực hiện, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Trần Thị Bích T và anh Nguyễn Thái H tự thỏa

thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị Trần Thị Bích T xác định không có, không yêu cầu Tòa

án giải quyết.

Phía bị đơn anh Nguyễn Thái H đã được Tòa án triệu tập đến Tòa để trình

bày ý kiến về việc nguyên đơn yêu cầu ly hôn nhưng cố tình vắng mặt không có lý do nên Tòa án không ghi nhận ý kiến và không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị Bích T vẫn giữ nguyên các ý kiến

đã trình bày, ngoài ra không có yêu cầu gì khác. Bị đơn anh Nguyễn Thái H vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh phát

biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đều đảm bảo đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng của chị Trần Thị Bích T và anh Nguyễn Thái H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Bích T được ly hôn với anh Nguyễn Thái H. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Đức T, sinh ngày 11/11/2015 cho chị Trần Thị Bích T nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên, việc cấp dưỡng nuôi con do hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: Do hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Chị Trần Thị Bích T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đương sự phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên toà và kết luận của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 về việc chấp

hành pháp luật tố tụng và nội dung của vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

. Hình thức, nội dung đơn yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Bích T thực

hiện đúng quy định tại Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên được Hội

đồng xét xử chấp nhận.

. Yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn chị Trần Thị Bích T đối với bị

đơn anh Nguyễn Thái H có nơi cư trú tại Quận 6 nên căn cứ quy định tại khoản

1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng

dân sự, Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh có thẩm quyền giải

quyết vụ án.

. Quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thị Bích T và anh Nguyễn Thái H

phát sinh từ năm 2014, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà

nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm

2014 là hôn nhân hợp pháp.

. Về yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn:

Theo nguyên đơn chị Trần Thị Bích T trình bày mâu thuẫn vợ chồng phát

sinh từ cuối năm 2015 do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình cả hai

không hòa hợp, gia đình hai bên đều có nhiều mâu thuẫn không thể giải quyết

được. Từ đầu năm 2017, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau và

chị T đã dọn ra ngoài sống riêng cho đến nay. Chị Trần Thị Bích T xác định

không còn tình cảm nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn anh Nguyễn Thái

H.

Phía bị đơn anh Nguyễn Thái H vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải

quyết vụ án nên không ghi nhận được ý kiến.

Theo Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng

có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ

nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình...” nhưng qua

lời trình bày của nguyên đơn thì giữa chị T, anh H đã phát sinh nhiều mâu thuẫn,

cả hai đã không có sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau vun đắp cho cuộc

sống gia đình. Từ cuối năm 2015 thì mâu thuẫn vợ chồng trở nên gay gắt,

thường xảy ra gây cãi và đã ly thân cho đến nay. Từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã

nhiều lần tiến hành hòa giải tạo điều kiện cho vợ chồng chị T, anh H hàn gắn

tình cảm, trở về đoàn tụ, tuy nhiên, phía bị đơn anh Nguyễn Thái H vắng mặt

không lý do, do vậy Tòa án không tiến hành hòa giải được. Căn cứ khoản 1 Điều

56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, xét thấy mâu thuẫn vợ chồng của chị

Trần Thị Bích T và anh Nguyễn Thái H đã trầm trọng, đời sống chung không thể

kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu

cầu ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở.

. Về con chung: Hiện nay cháu Nguyễn Đức T, sinh ngày 11/11/2015

đang sống cùng anh Nguyễn Thái H. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ anh H đến Tòa trình bày ý kiến của anh có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung, về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nhưng anh H đều vắng mặt nên chị T có yêu cầu được nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho đến khi thành niên. Vì lợi ích về mọi mặt của trẻ, căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận giao con chung tên Nguyễn Đức T, sinh ngày 11/11/2015 cho chị Trần Thị Bích T nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên. Việc cấp dưỡng nuôi con do chị T, anh H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

. Về tài sản chung: Chị Trần Thị Bích T và anh Nguyễn Thái H tự thỏa

thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

. Về nợ chung: Chị Trần Thị Bích T xác định không có, không yêu cầu

giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị Bích T phải chịu án phí ly

hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Bích T và anh Nguyễn Thái H

được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều

39, khoản 4 Điều 147 và Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 9, 14, 51, 53, 56, 81, 82, 83, 84 và Điều 85 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 26 của Luật thi hành án dân sự năm 2008; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị Bích T và anh Nguyễn Thái

H. Giấy chứng nhận kết hôn số 34, quyển số 01/2014 do Ủy ban nhân dân Phường 4, Quận 6 cấp ngày 29/4/2014 không còn giá trị kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung tên Nguyễn Đức T, sinh ngày

11/11/2015 cho chị Trần Thị Bích T nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên. Việc cấp dưỡng nuôi con do chị T, anh H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Nguyễn Thái H có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống

chung với chị Trần Thị Bích T.

Anh Nguyễn Thái H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được

cản trở.

Trường hợp anh Nguyễn Thái H lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc

gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì

chị Trần Thị Bích T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của

anh Nguyễn Thái H.

Vì lợi ích của con, khi cần thiết đôi bên được quyền yêu cầu thay đổi

người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Chị Trần Thị Bích T và anh Nguyễn Thái H tự thỏa

thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về nợ chung: Chị Trần Thị Bích T xác định không có, không yêu cầu

Tòa án giải quyết.

5. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị Bích T nộp 300.000 đồng (ba

trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được tính vào số tiền tạm nộp án phí đã

nộp theo biên lai thu số 0011445 ngày 01/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân

sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh. Chị Trần Thị Bích T đã nộp đủ án phí.

6. Chị Trần Thị Bích T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày

kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Thái H có quyền kháng cáo bản án trong thời

hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm

yết.

7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi

hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự

có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành

án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, và Điều 9 Luật

Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều

30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ