- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? 39, khoản 4 Điều 147 và Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 9, 14, 51, 53, 56, 81, 82, 83, 84 và Điều 85 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 26 của Luật thi hành án dân sự năm 2008; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy…
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 876/2019/HNGĐ-ST Ngày: 27/11/2019 V/v “Ly hôn giữa chị T và anh H” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Trúc
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phan Thị Lan
2. Bà Võ Thị Xuân Đào
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Xuân Thảo – Thư ký Toà án nhân dân
Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dịu Thùy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 6,
Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số
543/2019/TLST-HNGĐ ngày 01/8/2019 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa
vụ án ra xét xử số: 496/2019/QĐXX-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2019 và
Quyết định hoãn phiên tòa số 183/2019/QĐST-HPT ngày 11 tháng 11 năm 2019
giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Bích T, sinh năm 1987 – Có mặt.
Thường trú: 234/27/3 đường P, phường B, quận S, Thành phố Hồ Chí
Minh.
Tạm trú: 439/46/7/10 đường H, khu phố H, phường A, quận B, Thành phố
Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thái H, sinh năm 1986 – Vắng mặt.
Địa chỉ: 234/27/3 đường P, phường B, quận S, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn nộp ngày 22/7/2019 và trong quá trình xét xử,
nguyên đơn chị Trần Thị Bích T trình bày: Chị và anh Nguyễn Thái H tự nguyện
chung sống với nhau năm 2012, đến năm 2014 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân
dân Phường 4, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 34, quyển số 01/2014, cấp ngày 29/4/2014), có 01 con chung tên Nguyễn Đức T, sinh ngày 11/11/2015.
Sau khi cưới, vợ chồng chung sống tại nhà của gia đình anh Nguyễn Thái
H. Thời gian đầu, vợ chồng sống hạnh phúc. Đến cuối năm 2015 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình cả hai không hòa hợp, gia đình hai bên đều có nhiều mâu thuẫn không thể giải quyết được. Hai vợ chồng đã nhiều lần cố gắng hòa giải nhưng không có kết quả. Từ đó, mâu thuẫn càng ngày càng trầm trọng, thường xuyên xảy ra cãi vã, tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt và đã sống ly thân. Từ tháng 02/2017, chị T đã dọn ra ngoài ở riêng cho đến nay. Chị Trần Thị Bích T xác định không còn tình cảm nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn anh Nguyễn Thái H.
Về con chung: Chị Trần Thị Bích T yêu cầu được nuôi dưỡng, giáo dục
con chung tên Nguyễn Đức T, sinh ngày 11/11/2015. Việc cấp dưỡng nuôi con do hai bên tự thỏa thuận thực hiện, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Trần Thị Bích T và anh Nguyễn Thái H tự thỏa
thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị Trần Thị Bích T xác định không có, không yêu cầu Tòa
án giải quyết.
Phía bị đơn anh Nguyễn Thái H đã được Tòa án triệu tập đến Tòa để trình
bày ý kiến về việc nguyên đơn yêu cầu ly hôn nhưng cố tình vắng mặt không có lý do nên Tòa án không ghi nhận ý kiến và không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị Bích T vẫn giữ nguyên các ý kiến
đã trình bày, ngoài ra không có yêu cầu gì khác. Bị đơn anh Nguyễn Thái H vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh phát
biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đều đảm bảo đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng của chị Trần Thị Bích T và anh Nguyễn Thái H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Bích T được ly hôn với anh Nguyễn Thái H. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Đức T, sinh ngày 11/11/2015 cho chị Trần Thị Bích T nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên, việc cấp dưỡng nuôi con do hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: Do hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Chị Trần Thị Bích T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đương sự phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên toà và kết luận của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 về việc chấp
hành pháp luật tố tụng và nội dung của vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
. Hình thức, nội dung đơn yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Bích T thực
hiện đúng quy định tại Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên được Hội
đồng xét xử chấp nhận.
. Yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn chị Trần Thị Bích T đối với bị
đơn anh Nguyễn Thái H có nơi cư trú tại Quận 6 nên căn cứ quy định tại khoản
1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng
dân sự, Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh có thẩm quyền giải
quyết vụ án.
. Quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thị Bích T và anh Nguyễn Thái H
phát sinh từ năm 2014, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà
nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm
2014 là hôn nhân hợp pháp.
. Về yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn:
Theo nguyên đơn chị Trần Thị Bích T trình bày mâu thuẫn vợ chồng phát
sinh từ cuối năm 2015 do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình cả hai
không hòa hợp, gia đình hai bên đều có nhiều mâu thuẫn không thể giải quyết
được. Từ đầu năm 2017, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau và
chị T đã dọn ra ngoài sống riêng cho đến nay. Chị Trần Thị Bích T xác định
không còn tình cảm nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn anh Nguyễn Thái
H.
Phía bị đơn anh Nguyễn Thái H vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải
quyết vụ án nên không ghi nhận được ý kiến.
Theo Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng
có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ
nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình...” nhưng qua
lời trình bày của nguyên đơn thì giữa chị T, anh H đã phát sinh nhiều mâu thuẫn,
cả hai đã không có sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau vun đắp cho cuộc
sống gia đình. Từ cuối năm 2015 thì mâu thuẫn vợ chồng trở nên gay gắt,
thường xảy ra gây cãi và đã ly thân cho đến nay. Từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã
nhiều lần tiến hành hòa giải tạo điều kiện cho vợ chồng chị T, anh H hàn gắn
tình cảm, trở về đoàn tụ, tuy nhiên, phía bị đơn anh Nguyễn Thái H vắng mặt
không lý do, do vậy Tòa án không tiến hành hòa giải được. Căn cứ khoản 1 Điều
56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, xét thấy mâu thuẫn vợ chồng của chị
Trần Thị Bích T và anh Nguyễn Thái H đã trầm trọng, đời sống chung không thể
kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu
cầu ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở.
. Về con chung: Hiện nay cháu Nguyễn Đức T, sinh ngày 11/11/2015
đang sống cùng anh Nguyễn Thái H. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ anh H đến Tòa trình bày ý kiến của anh có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung, về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nhưng anh H đều vắng mặt nên chị T có yêu cầu được nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho đến khi thành niên. Vì lợi ích về mọi mặt của trẻ, căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận giao con chung tên Nguyễn Đức T, sinh ngày 11/11/2015 cho chị Trần Thị Bích T nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên. Việc cấp dưỡng nuôi con do chị T, anh H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
. Về tài sản chung: Chị Trần Thị Bích T và anh Nguyễn Thái H tự thỏa
thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
. Về nợ chung: Chị Trần Thị Bích T xác định không có, không yêu cầu
giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị Bích T phải chịu án phí ly
hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Bích T và anh Nguyễn Thái H
được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, khoản 4 Điều 147 và Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 9, 14, 51, 53, 56, 81, 82, 83, 84 và Điều 85 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 26 của Luật thi hành án dân sự năm 2008; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị Bích T và anh Nguyễn Thái
H. Giấy chứng nhận kết hôn số 34, quyển số 01/2014 do Ủy ban nhân dân Phường 4, Quận 6 cấp ngày 29/4/2014 không còn giá trị kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung tên Nguyễn Đức T, sinh ngày
11/11/2015 cho chị Trần Thị Bích T nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên. Việc cấp dưỡng nuôi con do chị T, anh H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Nguyễn Thái H có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống
chung với chị Trần Thị Bích T.
Anh Nguyễn Thái H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được
cản trở.
Trường hợp anh Nguyễn Thái H lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc
gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì
chị Trần Thị Bích T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của
anh Nguyễn Thái H.
Vì lợi ích của con, khi cần thiết đôi bên được quyền yêu cầu thay đổi
người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Chị Trần Thị Bích T và anh Nguyễn Thái H tự thỏa
thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về nợ chung: Chị Trần Thị Bích T xác định không có, không yêu cầu
Tòa án giải quyết.
5. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị Bích T nộp 300.000 đồng (ba
trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được tính vào số tiền tạm nộp án phí đã
nộp theo biên lai thu số 0011445 ngày 01/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân
sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh. Chị Trần Thị Bích T đã nộp đủ án phí.
6. Chị Trần Thị Bích T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày
kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Thái H có quyền kháng cáo bản án trong thời
hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm
yết.
7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, và Điều 9 Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - VKSND Quận 6; - CCTHADS Quận 6; - UBND Phường 4, Quận 6; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thanh Trúc |