vanban.org

Bản án 874/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 29/06/2020 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn H đối với bà Nguyễn Thị Kim C:

Quan hệ hôn nhân: Ông Lê Văn H ly hôn bà Nguyễn Thị Kim C. Con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Văn H-Nguyễn Thị Kim C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn H đối với bà Nguyễn Thị Kim C:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 874/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 29-6-2020
V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Chủ tọa phiên tòa – Thẩm phán: Ông Phan Trịnh Minh Đức.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Nhanh.

Ông Nguyễn Thành Thông.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không tham gia phiên tòa.

Trong ngày 29 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 108/2020/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2020 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2884/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lê Văn H, sinh năm 1958. (Có mặt)

Địa chỉ: Số 90 Đường S, Phường B, quận V, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1968. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Sydney, Australia.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện và Bản tự khai, nguyên đơn ông Lê Văn H trình bày:

Ông Lê Văn H và bà Nguyễn Thị Kim C tự nguyện kết hôn năm 2014, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam theo giấy chứng nhận kết hôn số 582 quyển số 03 ngày 06/3/2014.

Sau khi kết hôn, bà Nguyễn Thị Kim C quay trở lại nước Úc (Australia) sinh sống và làm việc, không thường xuyên về Việt Nam đoàn tụ và chung sống với ông Lê Văn H, mặc dù rất cố gắng nhưng vợ chồng không thể hàn gắn do điều kiện cách biệt địa lý, gần 03 (Ba) năm nay vợ chồng không còn liên hệ qua lại và không gặp nhau nữa. Từ đó tình cảm vợ chồng dần dần phai nhạt và hiện nay không còn tình cảm với nhau. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không đem lại hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên Ông Lê Văn H yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị Kim C.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có.

Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Kim C: Trong đơn đồng ý ly hôn ngày 19/5/2020 đã được Hợp pháp hóa lãnh sự ngày 19/5/2020, bà Nguyễn Thị Kim C trình bày thừa nhận quan hệ hôn nhân, việc đăng ký kết hôn, mâu thuẫn vợ chồng, con chung, tài sản chung, nợ chung như ông Lê Văn H trình bày. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim C đồng ý ly hôn theo yêu cầu của ông Lê Văn H. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có. Do không thể tham gia phiên tòa xét xử vụ án hôn nhân gia đình theo đơn khởi kiện của ông Lê Văn H tại Việt Nam, bà Nguyễn Thị Kim C yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Kim C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: Xét về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn H yêu cầu ly hôn với bị đơn bà Nguyễn Thị Kim C, đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về “Ly hôn theo yêu cầu của một bên” theo quy định tại Khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, thuộc trường hợp “Ly hôn” theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn bà Nguyễn Thị Kim C đang cư trú tại nước Úc (Australia) nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa gia đình và người chưa thành niên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điều 35, 37, 38, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Xét sự vắng mặt của bị đơn bà Nguyễn Thị Kim C tại phiên tòa sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Kim C có yêu cầu xét xử vắng mặt đã được Hợp pháp hóa lãnh sự ngày 19/5/2020. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Kim C theo quy định tại Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn H đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Kim C, xét thấy: Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn ngày 03/3/2014 vào sổ đăng ký kết hôn số 582 quyển số 03 ngày 06/3/2014 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam cấp cho ông Lê Văn H và bà Nguyễn Thị Kim C, có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa ông Lê Văn H và bà Nguyễn Thị Kim C là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Ông Lê Văn H yêu cầu được ly hôn bà Nguyễn Thị Kim C với lý do sau khi kết hôn, bà Nguyễn Thị Kim C quay trở lại nước Úc (Australia) sinh sống và làm việc, không thường xuyên về Việt Nam đoàn tụ và chung sống với ông Lê Văn H, mặc dù rất cố gắng nhưng vợ chồng không thể hàn gắn do điều kiện cách biệt địa lý, gần 03 (Ba) năm nay vợ chồng không còn liên hệ qua lại và không gặp nhau nữa. Từ đó tình cảm vợ chồng dần dần phai nhạt và hiện nay không còn tình cảm với nhau. Đối với bà Nguyễn Thị Kim C cũng thừa nhận trình bày của ông Lê Văn H là đúng và đồng ý ly hôn ông Lê Văn H. Xét thấy, tình nghĩa vợ chồng giữa ông Lê Văn H và bà Nguyễn Thị Kim C không có sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; điều kiện sống mỗi người mỗi nơi không có sự chia sẻ, thực hiện các công việc trong một gia đình; khả năng đoàn tụ không có nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn H ly hôn bà Nguyễn Thị Kim C theo quy định tại Điều 19, 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 37, Khoản 2 Điều 38, Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280, Khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 9, Điều 19, Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 6 Luật Phí và lệ phí năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn H đối với bà Nguyễn Thị Kim C:

- Quan hệ hôn nhân: Ông Lê Văn H ly hôn bà Nguyễn Thị Kim C.

- Con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Lê Văn H phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông Lê Văn H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0045854 ngày 18/3/2020 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

Ông Lê Văn H được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bà Nguyễn Thị Kim C vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án sơ thẩm được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án sơ thẩm được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ