vanban.org

Bản án 873/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Hà Kim T1.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đinh Hà Kim T1 đối với ông Nguyễn Ngọc T2. Giấy chứng nhận kết hôn số 55 quyển số 01/2008 ngày 16/01/2008 của Ủy Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn giữa Đinh Hà Kim T1 và Ông Nguyễn Ngọc T2"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Hà Kim T1.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN PHÚ NHUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 873/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 27/11/2019
V/v Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Cao Cường

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Vụ

2. Bà Nguyễn Minh Trí

- Thư ký phiên tòa:Bà Phạm Thanh Hà-Thư ký Tòa án nhân dân quận PN, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận PN tham gia phiên tòa:

Bà Bùi Thị Bích Phượng- Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận PN, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 218/2019/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2019 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/10/2019, và Quyết định hoãn phiên tòa số 104/2019/QĐST-HNGĐ ngày 11/11/2019 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn:Bà Đinh Hà Kim T1, sinh năm 1988

Địa chỉ: 235/1 Đ, Phường 4, quận PN, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

- Bị đơn:Ông Nguyễn Ngọc T2, sinh năm 1987

Địa chỉ: 235/1 Đ, Phường 4, quận PN, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 22/3/2019 và trong quá trình xét xử nguyên đơn bà Đinh Hà Kim T1 trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Đinh Hà Kim T1 và ông Nguyễn Ngọc T2 sau thời gian tìm hiểu và tự nguyện kết hôn vào năm 2008 tại Ủy ban nhân dân Phường 4, quận PN, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian, tuy nhiên cuộc sống vợ chồng ngày càng xảy ra mâu thuẫn, ông T2 không có đi làm ổn định, thường xuyên bỏ nhà ra đi đâu đó khoảng gần 10 ngày rồi quay về nhà ít hôm rồi lại bỏ nhà ra đi mặc dù giữa bà T1 và ông T2 không cải vả hay gây hấn gì trong cuộc sống vợ chồng, bản thân bà T1 đã nhiều lần khuyên bảo và thuyết phục ông T2 quay về nhà, cố tìm một việc làm ổn định để vợ chồng được hạnh phúc như các gia đình khác nhưng ông T2 không những không nghe lời khuyên mà bỏ nhà ra đi luôn, hiện nay không biết ông T2 đang ở đâu, làm gì. Nay mục đích hôn nhân không đạt được. Hiện tại giữa bà T1 và ông T2 đã có cuộc sống riêng chỉ tồn tại tư cách vợ chồng trên giấy tờ, hai người đã sống ly thân hơn một năm nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng hàn gắn nên bà Đinh Hà Kim T1 yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Nguyễn Ngọc T2.

Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Có 02 con chung gồm có:

1. Trẻ Nguyễn Ngọc V, sinh ngày 03/12/2007;

2. Trẻ Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 06/3/2018;

Bà Đinh Hà Kim T1 yêu cầu Tòa án là người trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ Ngọc V và Ngọc A đến đủ 18 tuổi, về cấp dưỡng nuôi con bà T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản và nợ chung: Bà Đinh Hà Kim T1 tự khai không có.

- Bị đơn ông Nguyễn Ngọc T2:

Ông Nguyễn Ngọc T2 đã được Tòa án tiến hành xác minh, niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, triệu tập để lấy lời khai, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, triệu tập tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm nhưng ông Nguyễn Ngọc T2 vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu trong đơn khởi kiện và

không bổ sung chứng cứ nào khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận PN phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

+ Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng đã được thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

+ Về nội dung vụ án: Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, về con chung, giao 02 trẻ Nguyễn Ngọc Vy, Nguyễn Ngọc An, cho bà Đinh Hà Kim T1 trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, về cấp dưỡng nuôi con bà T1 không yêu cầu; về tài sản và nợ chung bà T1 tự khai không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Bà Đinh Hà Kim T1 khởi kiện yêu cầu được ly hôn đối với ông Nguyễn Ngọc T2, ông T2 có nơi cư trú tại số nhà 235/1 Đ, Phường 4, Quận PN, Thành phố Hồ Chí Minh do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận PN, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dânsự năm 2015.

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào giấy chứng nhận kết hôn số 55 quyển số 01/2008 ngày 16/01/2008 của Ủy ban nhân dân Phường 4, quận PN, Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận cho ông Nguyễn Ngọc T2 và bà Đinh Hà Kim T1 thể hiện đây là hôn nhân hợp pháp đúng pháp luật.

Xét thấy, cuộc sống hôn nhân giữa hai vợ chồng là phải yêu thương quan tâm chăm sóc lẫn nhau, nhưng trong cuộc sống vợ chồng giữa bà Đinh Hà Kim T1 và ông Nguyễn Ngọc T2 không còn sự chia sẻ lẫn nhaudẫn đến nhiều mâu thuẫn phát sinh không thể khắc phục. Mặt khác tình cảm của bà Kim T1 dành cho ông T2 không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, việc bà Đinh Hà Kim T1 yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Ngọc T2 là phù hợp với với Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung:Có 02 con chung gồm có:

1. Trẻ Nguyễn Ngọc V, sinh ngày 03/12/2007;

2. Trẻ Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 06/3/2018;

Bà Đinh Hà Kim T1 yêu cầu Tòa án là người trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ Ngọc V và Ngọc A đến đủ 18 tuổi, là phù hợp với Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Đinh Hà Kim T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Đinh Hà Kim T1 tự khai không có.

Về án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình: Bà Đinh Hà Kim T1 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, 228 và Điều 232 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ và các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Căn cứ Luật thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi bổ sung năm 2014);

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Hà Kim T1.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đinh Hà Kim T1 đối với ông Nguyễn Ngọc T2.

Giấy chứng nhận kết hôn số 55 quyển số 01/2008 ngày 16/01/2008 của Ủy

ban nhân dân Phường 4, quận PN, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho Đinh Hà Kim T1 đối với ông Nguyễn Ngọc T2 không còn giá trị pháp luật.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao 02 con chungtrẻ Nguyễn Ngọc V, sinh ngày 03/12/2007 và trẻ Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 06/3/2018 cho bà Đinh Hà kim T1 là người trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai con chung lần lượt đến đủ 18 tuổi.

2.2. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận việc bà Đinh Hà Kim T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức đóng góp cho việc nuôi dưỡng, giáo dục con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con,

không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Đinh Hà Kim T1 không có.

4. Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình:

Bà Đinh Hà Kim T1 phải chịu. Nay được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Đinh Hà Kim T1 đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo Biên lai thu tiền phí, lệ phí tòa án số 0041695 ngày 29/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

5. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ

ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của

Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ