- Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "SE Corp - Công ty CP V"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 137 Bộ luật Dân sự; Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 872/2018/KDTM-ST Ngày: 05/7/2018 V/v tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Ân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Nhanh
2. Ông Phạm Văn Hễ
Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Ngọc Hân – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong ngày 05 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 6/2018/TLST-KDTM ngày 03 tháng 01 năm 2018 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2306/2018/QĐXXST-KDTM ngày 21 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: SE Corp.
Địa chỉ: No.16, Guangfu N.Rd, HK Township, HC 303, Taiwan (R.O.C).
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thanh V (Theo giấy ủy quyền ngày 18/9/2017) (Có mặt).
Địa chỉ: 7 - 9 Đường 65, phường T, Quận T1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Công ty Cổ phần V.
Trụ sở: 57A đường C, Phường C1, quận C2, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: 64 đường D, phường D1, quận D2, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đức A (Vắng mặt).
Địa chỉ: 579/60 đường L, Phường L1, quận L2, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện của nguyên đơn - SE Corp và trình bày của người đại diện có yêu cầu như sau:
Ngày 20/01/2016 Công ty Cổ phần V đặt mua của SE Corp lô hàng trị giá 19.354,50 USD, Công ty Cổ phần V đã thanh toán trước số tiền 11.612,70 USD.
Sau khi nhận được số tiền thanh toán trên, ngày 26/01/2016 SE Corp đã tiến hành giao hàng cho Công ty Cổ phần V . Theo quy định trong vòng 30 ngày sau khi nhận được hàng hóa Công ty Cổ phần V phải thanh toán số tiền còn lại là 7.741,80 USD. Thế nhưng, sau khi nhận hàng xong, phía Công ty Cổ phần V viện lý do gặp khó khăn về tài chính hứa hẹn hết lần này đến lần khác mà không thanh toán.
Không đồng ý với lý do quá vô lý của Công ty Cổ phần V, ngày 25/05/2016 và ngày 23/09/2016 SE Corp gửi thông báo yêu cầu Công ty V phải thực hiện ngay việc thanh toán cho SE Corp nếu không sẽ tiến hành các hành động pháp lý theo quy định pháp luật Việt Nam, đồng thời nhấn mạnh là ngoài số tiền 7.741,80 USD phía Công ty Cổ phần V phải trả thì phải trả lãi và chịu mọi chi phí liên quan bao gồm cả phí luật sư,… Sau khi nhận được thông báo trên Công ty Cổ phần V lại tiếp tục hứa hẹn.
Ngày 24/05/2017, hai bên đã tiến hành đối chiếu công nợ. Theo đó, phía Công ty Cổ phần V xác nhận nợ chưa thanh toán cho SE Corp số tiền 7.741,80 USD và cam kết sẽ thanh toán dứt điểm trước ngày 05/07/2017. Thế nhưng, từ đó đến nay SE Corp đã nhiều lần liên lạc hối thúc yêu cầu thực hiện nhưng Công ty Cổ phần V không thực hiện, sau đó tìm cách né tránh.
SE Corp yêu cầu Toà án buộc Công ty Cổ phần V phải trả ngay cho SE Corp một lần toàn bộ số tiền hàng còn nợ là 7.741,80 USD (Bảy ngàn bảy trăm bốn mươi mốt phẩy tám mươi đô la Mỹ) tương đương với số tiền 176.358.204 đồng (theo tỉ giá tại thời điểm khởi kiện).
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc Công ty Cổ phần V phải trả ngay một lần toàn bộ số tiền hàng còn nợ là 7.741,80 USD (Bảy ngàn bảy trăm bốn mươi mốt phẩy tám mươi đô la Mỹ) hoặc bằng đồng Việt Nam với tỉ giá tại thời điểm thi hành án.
Đại diện theo pháp luật của bị đơn – Công ty Cổ phần V là ông Nguyễn Tuấn A vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án mặc dù đã được triệu tập hợp lệ và không có văn bản ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; nghe ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện thì việc nguyên đơn khởi kiện bị đơn là tranh chấp kinh doanh thương mại về “Tranh chấp hợp đồng mua bán” được quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn là pháp nhân nước ngoài có địa chỉ trụ sở tại Taiwan – Trung Quốc, bị đơn có địa chỉ tại Thành phố Hồ Chí Minh nên theo quy định tại Khoản 3 Điều 35, Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Về tư cách đương sự: Nguyên đơn đã ủy quyền cho bà Nguyễn Thanh V tham gia tố tụng đúng quy định, hợp lệ.
Đối với bị đơn: Theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đăng ký thay đổi lần thứ 9 ngày 18/01/2018 thì người đại diện theo pháp luật của Công ty Cổ phần V là ông Nguyễn Tuấn A. Ông Nguyễn Tuấn A có địa chỉ tại 579/60 đường L, Phường L1, quận L2, Thành phố Hồ Chí Minh. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Tuấn A nhưng ông Tuấn A vắng mặt không lý do trong suốt quá trình giải quyết vụ án, do đó Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định pháp luật.
Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của SE Corp yêu cầu Công ty Cổ phần V trả 7.741,80 USD tiền hàng còn thiếu, Hội đồng xét xử xét thấy: Ngày 20/01/2016 Công ty Cổ phần V đặt mua của SE Corp lô hàng trị giá 19.354,50 USD, đã thanh toán trước số tiền 11.612,70 USD. Ngày 26/01/2016 SE Corp đã tiến hành giao hàng cho Công ty Cổ phần V theo vận đơn KEEHCMF98505A02 S/O số 2223. Theo quy định là trong vòng 30 ngày sau khi nhận được hàng hóa thì phía Công ty Cổ phần V phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền còn lại là 7.741,80 USD nhưng đến nay vẫn chưa thanh toán.
Căn cứ vào hóa đơn mẫu số 2S30-160119002 và bảng đối chiếu công nợ số 24.05-2017/BĐCCN ngày 24 tháng 5 năm 2017 thì bị đơn đã xác định còn nợ số tiền là 7.741,80 USD tương đương với số tiền 176.358.204 đồng (theo tỉ giá tại thời điểm khởi kiện). Do vậy yêu cầu của nguyên đơn buộc Công ty Cổ phần V phải trả ngay cho SE Corp một lần toàn bộ số tiền hàng còn nợ là 7.741,80 USD hoặc bằng đồng Việt Nam tại thời điểm thi hành án là có căn cứ.
Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử sơ thẩm xét thấy yêu cầu của SE Corplà có căn cứ nên chấp nhận.
Do nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu nên không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm, được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp. Bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- Khoản 1 Điều 30, Khoản 3 Điều 35, Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 137 Bộ luật dân sự 2015;
- Điều 50 và Điều 306 Luật Thương mại 2005;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của SE Corp. Buộc Công ty Cổ phần V phải thanh toán cho SE Corp một lần toàn bộ số tiền hàng còn nợ là 7.741,80 USD (Bảy ngàn bảy trăm bốn mươi mốt phẩy tám mươi đô la Mỹ) hoặc bằng đồng Việt Nam với tỉ giá tại thời điểm thi hành án.
2- Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, bị đơn chưa thanh toán xong khoản tiền thì còn phải trả tiền lãi theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành án.
3- Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Công ty Cổ phần V phải chịu án phí là 8.817.910 (Tám triệu tám trăm mười bảy nghìn chín trăm mười) đồng.
SE Corp được nhận lại toàn bộ tạm ứng án phí đã nộp là 4.409.000 (Bốn triệu bốn trăm lẻ chín nghìn) đồng theo biên lai thu số AA/2017/0048462 ngày 25 tháng 12 năm 2017 của Cục Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Thi hành án tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Án xử công khai, các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với các đương sự không có mặt tạ.i phiên tòa được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - TAND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - Cục THADS TP.HCM; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Hồng Ân |