- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ngô Thùy Dương - Trần Trung D1"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 871/2025/HNGĐ-ST Ngày: 24-9-2025 V/v tranh chấp Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Kiều Oanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lâm Thị Nga
2. Ông Phạm Nguyễn Anh Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền, thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2025, tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 335/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2025 về “Tranh chấp Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1078/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2025 và Quyết định Hoãn phiên tòa số 2507/2025/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Ngô Thùy D, sinh năm 1991; địa chỉ cư trú: Số A, đường N, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Trần Trung D1, sinh năm 1988; địa chỉ cư trú: Số B, đường L, phường G, Tp. Hồ Chí Minh.
(nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Ngô Thùy D trình bày:
Bà D và ông D1 tự nguyện chung sống với nhau có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường B, quận G (nay là Phường G), Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn số 75 ngày 18/10/2021. Thời gian đầu sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc, hai bên có sự quan tâm và chăm sóc lẫn nhau. Tuy nhiên, sau một thời gian chung sống, giữa bà D và ông D1 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do hai bên bất đồng về tính cách cũng như về quan điểm sống. Ông D1 thường xuyên đi nhậu, có nhiều mối quan hệ bên ngoài và không chăm lo cho gia đình. Bà D và ông D1 không có sự chia sẻ với nhau trong cuộc sống về mặt tình cảm gia đình cũng như tài chính. Bà D nhiều lần muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không thể thay đổi được tình hình và mâu thuẫn ngày càng trầm trọng khiến cho cuộc sống chung trở nên ngột ngạt. Bà D và ông D1 đã sống ly thân hơn một năm nay. Nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách nên bà D yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông D1.
Về con chung: Bà D và ông D1 có một con chung tên Trần Ngọc Khánh U, sinh ngày 30/11/2020. Bà D yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu ông D1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt giấy triệu tập; Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông D1 để triệu tập ông đến Tòa để ghi nhận ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà D nhưng ông D1 không đến Tòa, không cung cấp chứng cứ và cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của bà D.
Tại phiên tòa, bà D vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Ông D1 vắng mặt.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và các đương sự:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xác định thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định tư cách tố tụng, thu thập chứng cứ; thực hiện việc gửi các văn bản tố tụng, hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng quy định.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Bà D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết xin ly hôn với ông D1, đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Ông D1 có nơi cư trú tại phường G (Phường B, quận G cũ), Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về người tham gia tố tụng:
Trong quá trình chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn. Tuy nhiên bị đơn - ông Trần Trung D1 vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông D1.
Xét yêu cầu xin ly hôn của bà D:
Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa bà D và ông D1 là hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn nên được công nhận hôn nhân hợp pháp. Bà D xin ly hôn với ông D1 vì nhận thấy mâu thuẫn gia đình đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà D và ông D1 đã có thời gian sống ly thân một năm nay. Hội đồng xét xử xét thấy từ sau khi vụ án được thụ lý và trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập ông D1 đến Tòa để giải quyết vụ án nhưng ông D1 vẫn vắng mặt. Điều này chứng tỏ ông D1 không có trách nhiệm đối với hôn nhân của mình, không có thiện chí trong việc giải quyết mâu thuẫn gia đình và hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do vậy, căn cứ khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà D đối với ông D1.
Xét yêu cầu nuôi con của bà D:
Bà D và ông D1 có một con chung tên Trần Ngọc Khánh U, sinh ngày 30/11/2020. Mặc dù Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông D1 về con chung nhưng xét thấy con hiện nay đang do bà D trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng nên việc giao con cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, bà D yêu cầu trực tiếp nuôi con là có cơ sở để chấp nhận. Xét việc bà D không yêu cầu ông D1 cấp dưỡng nuôi con là ý chí tự nguyện và không trái pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết vụ án bà D không yêu cầu giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con: Căn cứ Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà D phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 5, Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 200, Điều 266 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thùy D được ly hôn với ông Trần Trung D1 (Giấy chứng nhận kết hôn số 75 do Ủy ban nhân dân phường 17, quận Gò Vấp (nay là Phường Gò Vấp), Tp. Hồ Chí Minh cấp ngày 18/10/2021 hết hiệu lực).
2. Về con chung: Giao trẻ Trần Ngọc Khánh U, sinh ngày 30/11/2020 cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi. Ghi nhận sự tự nguyện của bà D không yêu cầu ông D1 cấp dưỡng nuôi con.
Ông D1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con mà không ai được cản trở.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Về tài sản chung: Không xét.
4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) bà D phải chịu án phí nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí bà D đã nộp theo biên lai thu tiền số 0057662 ngày 21/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp (nay là Phòng thi hành án dân sự Khu vực 7), Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND KV7-Tp. HCM; - THADS Tp. HCM; - UBND nơi đăng ký kết hôn; - Lưu VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Kiều Oanh |