- Tranh chấp gì? "Lê Thị Ng - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Căn cứ: khoản 1 Điều 174; điểm b,i, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 87/2022-HSST Ngày: 05-7- 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN - TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông: Mai Đình Thuận
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Lê Thế Hải
Ông: Trương Văn Bắc
- Thư ký phiên toà: Ông:Phạm Viết Chiến- Thư ký Toà án nhân dân thị xã Nghi Sơn – Thanh Hoá.
- Đại diện VKSND thị xã Nghi Sơn tham gia phiên toà:
Ông: Nguyễn Văn Long - chức vụ: Kiểm sát viên
Ngày 05/7/2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn - Thanh Hoá, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 63/2022/TLST- HS ngày 12/5/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2022/QĐXXST-HS ngày 26/05/2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Thị Ng – Sinh năm 1989; tại phường Hải N, thị xã Nghi S, Thanh H. Nơi cư trú: Tổ dân phố Đồng M, phường Hải N, thị xã Nghi S, Thanh H.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tôc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tich: Việt Nam; con ông: Lê Ng Q và bà : Vũ Thị M; chồng: Lê Công H; có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo cáo mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại: Bà: Lê Thị Ch. SN 1950 (có mặt)
Trú tại: Tổ dân phố Thanh B, phường Hải N, thị xã Nghi S, tỉnh Thanh H.
*Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại.
Ông: Lê Khắc Hải, Trợ giúp viên pháp lý chi nhánh số 03- Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Thanh Hóa (có mặt).
* Người làm chứng: - Chị Phạm Thị Q - Sinh năm 1977 (vắng mặt)
Trú tại: TDP Đồng M, phường Hải N, thị xã Nghi S, tỉnh Thanh H.
- Chị Lê Thị T - Sinh năm 2004 (vắng mặt) Trú tại: TDP Đồng Minh, phường Hải Ninh, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Thị Ng và Phạm Thị Q, trú tại tổ dân phố Đồng Minh, phường Hải Ninh, thị xã Nghi Sơn) là công nhân làm cùng công ty TNHH giày Annora. Khoảng tháng 8/2021, Ng biết em trai Quyên là Phạm Văn L đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa, Ng nói với và mẹ của Q là bà Lê Thị Chinh, trú tại tổ dân phố Thanh Bình, phường Hải Ninh, thị xã Nghi Sơn) là Ng có người họ hàng tên Duyệt là Công an có thể chạy giảm án cho Lượng và yêu cầu bà Chinh đưa 40.000.000 đồng để Ng đi chạy án. Tin tưởng vào lời nói của Ng, ngày 15/8/2021, bà Chinh đưa cho Quyên 3.000.000 đồng, đồng thời vay thêm của Quyên 6.000.000 đồng, nhờ Quyên đưa cho Ng 9.000.000 đồng tại sân nhà của Quyên. Tiếp sau đó, từ ngày 17/8/2021 đến ngày 21/8/2021, bà Chinh đã nhiều lần đưa tiền cho Ng tại ngõ trước cổng nhà ở của Ng với tổng số tiền là 22.700.000 đồng. Tổng số tiền Ng nhận là 31.700.000 đồng. Sau khi lấy tiền Ng sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Sau đó bà Chinh nhận được thông tin Ng nợ nần nhiều và con không được giảm án, biết mình bị lừa, bà Chinh yêu cầu Ng trả lại số tiền đã nhận nhưng Ng khất lần không trả. Đến ngày 12/10/2021, bà Chinh tố cáo Ng đến cơ quan Công an.
Quá trình điều tra, Lê Thị Ng khai nhận do túng thiếu nên khi nghe được thông tin con trai bà Chinh bị tạm giam thì đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ng đưa ra thông tin gian dối là có họ hàng với người tên Duyệt là công an có thể chạy giảm án nhằm tạo niềm tin cho bà Chinh để chiếm đoạt tiền của bà Chinh (thực tế Ng không quen biết người tên Duyệt làm công an và cũng không có điều kiện, khả năng chạy giảm án cho con trai bà Chinh). Sau khi nhận được tổng số tiền là 31.700.000 đồng của bà Chinh, Ng sử dụng tiêu xài cá nhân hết.
Quá trình điều tra xác định, bà Lê Thị C, sinh ngày 11/8/1950, tính đến ngày bị Ng lừa đảo, bà Chinh đã trên 70 tuổi.
Về dân sự: Bị hại là bà Lê Thị C yêu cầu Ng bồi thường số tiền đã chiếm đoạt là 31.700.000 đồng. Quá trình điều tra, Lê Thị Ng đã tự nguyện nộp 15.700.000 đồng vào Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn để trả lại cho bị hại. Bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Tại Bản Cáo trạng số 75/CT-VKSNS ngày 10/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn truy tố bị cáo Lê Thị Ng về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
*Áp dụng: khoản 1 Điều 174; điểm b,i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 38 B00j luật hình sự.
Đề nghị xử phạt Lê Thị Ng từ 9 tháng đến 12 tháng tù.
Do bị cáo đang có thai và hoàn cảnh khó khăn, thu nhập thấp đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
* Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 584, Điều 589 Bộ luật dân sự, đề nghị buộc Lê Thị Ng phải bồi thường cho bà Lê Thị Chinh số tiền 16.000.000 đồng.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự
Đề nghị trả lại số tiền 15.700.000 đồng Lê Thị Ng đã nộp vào Chi cục THADS thị xã Nghi Sơn, cho bà Lê Thị Chinh.
* Người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại:
Về tội danh và hình phạt thống nhất như ý kiến của đại diện kiểm sát, bị cáo Ng phạm tội đối với bà Lê Thị Chinh là người đủ 70 tuổi trở lên về phần dân sự đề nghị trả lại số tiền 15.700.000 đồng Lê Thị Ng đã nộp vào Chi cục THADS thị xã Nghi Sơn, cho bà Lê Thị Chinh và yêu cầu bị cáo Ng phải tiếp tục bồi thường cho bà Chinh 16.000.000đ.
Tại phiên tòa bị cáo nhận tội và không có ý kiến tranh luận đối với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo nhận thấy việc làm của mình là sai, vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an thị xã Nghi Sơn, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Điều tra viên, Kiểm sát viên VKSND thị xã Nghi Sơn trong quá trình điều tra, truy tố đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa bị cáo khai nhận:
Xuất phát từ động cơ vụ lợi, nên vào tháng 8/2021, Lê Thị Ng đưa ra thông tin gian dối nói bản thân có quan hệ và khả năng chạy giảm án cho anh Phạm Văn Lượng con trai bà Lê Thị Chinh, trú tại tổ dân phố Thanh Bình, phường Hải Ninh, thị xã Nghi Sơn nhằm lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà Chinh số tiền 40.000.000 đồng, làm cho bà Chinh tin tưởng là thật nên trong khoảng thời gian từ ngày 15/8/2021 đến ngày 21/8/2021, bà Chinh đã giao cho Ng với tổng số là 31.700.000 đồng. Số tiền Ng chiếm đoạt được của bà Chinh, Ng đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết
Tại phiên tòa bị cáo nhận tội, lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Quyết định truy tố và lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn là hoàn toàn có cơ sở. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Lê Thị Ng không có điều kiện, khả năng giảm án cho con trai bà C, nhưng đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối, đưa ra thông tin có quan hệ và khả năng chạy giảm án, lợi dụng lòng tin của người bị hại,để chiếm chiếm đoạt tài sản của bị hại với số tiền là 31.700.000 đồng. Do đó hành vi của Lê Thị Ng đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 BLHS.
.Tính chất vụ án:
Bị cáo vì động cơ mục đích tư lợi nên bằng thủ đoạn gian dối, đưa thông tin có quan hệ và khả năng chạy giảm án, lợi dụng lòng tin của người bị hại,để chiếm đoạt tài sản. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm thể hiện sự coi thường pháp luật, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác đồng thời gây mất trật tự trị an xã hội. Do đó cần phải xử lý ngiêm tương xứng với tính chất mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo.
. Xét Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
* Về tình tiết tăng nặng: Quá trình điều tra và kết quả thẩm vấn tại phiên tòa xác định, bà Lê Thị C, sinh ngày 11/8/1950, khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đối với bà Chinh, bà Chinh đã trên 70 tuổi. Do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng: “phạm tội đối với người đủ 70 tuổi trở lên”quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
* Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình. Trong giai đoạn điều tra, bị cáo đã bồi thường lại phần lớn số tiền chiếm đoạt cho bị hại. Người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Khi phạm tội bị cáo đang mang thai. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b,i, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, giảm cho bị cáo 1 phần hình phạt thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, căn cứ vào tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo. Xét thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để các bị cáo có thể giáo dục cải tạo sớm trở thành người công dân có ích cho xã hội.
. Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo đã chiếm đoạt số tiền 31.700.000 đồng của người bị hại. Trong giai đoạn điều tra bị cáo đã nộp bồi thường 15.700.000 đồng. Số tiền còn lại 16.000.000 đồng buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường lại cho bị hại.
. Về xử lý vật chứng: Số tiền 15.700.000 đồng bị cáo đã nộp vào Chi cục THADS thị xã Nghi Sơn, cần trả lại cho bị hại.
. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, thu nhập thấp không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
.Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ: khoản 1 Điều 174; điểm b,i, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Lê Thị Ng phạm tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
Xử phạt: Lê Thị Ng 9 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án hoặc tự nguyện thi hành án.
*Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 584, Điều 589 Bộ luật dân sự, buộc Lê Thị Ng phải bồi thường cho bà Lê Thị Chinh số tiền 16.000.000 đồng.
Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật, người bị hại có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo không thi hành các khoản tiền bồi thường thì phải chịu lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Điều 357; khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Trả lại số tiền 15.700.000đ (Mười lăm triệu đồng) Lê Thị Ng đã nộp vào Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cho bà Lê Thị Chinh.
Tang vật trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn, theo biên lai thu tiền ngày 08/04/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
* Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH: Buộc bị cáo Lê Thị Ng phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm, 800.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6,7,7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành ándân sự . Nơi nhận:
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Thanh Hóa;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND thị xã Nghi Sơn;
- VKSND tỉnh Thanh Hóa;
- CQĐT Công an thị xã Nghi Sơn;
- CQ THAHS TX Nghi Sơn;
- CCTHADS TX Nghi Sơn;
- Bị cáo;Người TGTT khác;
- Lưu HS.
Mai Đình Thuận
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
HỘI THẨM NHÂN DÂN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Mai Đình Thuận
| Nơi nhận: - VKSND TX Nghi SơnTHẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA - Công an TX Nghi Sơn - T.H.ADS TX Nghi Sơn - Bị cáo; - UBND nơi bị cáo cư trú; - Lưu hồ sơ. Mai Đình Thuận | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM |