vanban.org

Bản án 87/DSST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng vào khoản 6 Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26, điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản…

Tuyên xử: Chấp nhận một phần “Yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm” của anh Nguyễn Văn T. Buộc anh Phạm Đình B phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại sức khỏe cho anh Nguyễn Văn T số tiền 36.635.000đ (Ba sáu triệu sáu trăm ba mươi lăm ngàn đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Nguyễn Văn T- Phạm Đình B"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng vào khoản 6 Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26, điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản…
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH ĐỊNH
Bản số: 87/2019/DS-ST
Ngày: 12/9/2019
V/v:“Y/c BTTHSK".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, BÌNH ĐỊNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Bích Thủy;

Các Hội thẩm nhân dân:

-Bà Phạm Thị Tuyết Mai;

- Ông Nguyễn Vĩnh Mậu;

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Tô Tấn Cường – Cán bộ Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Bình Định;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T: Ông Nguyễn Văn Quang– Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bình Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 20/2019/TLST-DS ngày 20 tháng 02 năm 2019 về việc: “Yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1364/2019/DS-ST ngày 26 tháng 08 năm 2019 của TAND huyện T, tỉnh Bình Định, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1978, có mặt.

Địa chỉ: Thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định.

Bị đơn:

Anh Phạm Đình B, sinh năm 1974, có mặt.

Địa chỉ: Thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Lê Thị T1, sinh năm 1973, có mặt.

Địa chỉ: Thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 02 năm 2019, tại các bản khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ, biên bản hòa giải và tại phiên tòa hôm nay Nguyên đơn anh Nguyễn Văn T trình bày: Vào khoảng 23 giờ 00 phút ngày 05/5/2018 vợ chồng anh điều khiển ghe đi ủi cá ở lạch Gò Găng trên khu vực phía nam Đầm T3, trong khi vợ chồng anh đang dỡ lưới ủi thì ghe của vợ chồng anh Phạm Đình B,chị Trần Thị Mỹ H ở thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định cũng đánh bắt cá trên khu vực này đang chạy trốn lực lượng chức năng tuần tra nên cả anh và anh B khi điều khiển ghe đều không có đèn vì vậy ghe của vợ chồng anh B, chị H tông vào bên trái thân ghe của vợ chồng anh một lực rất mạnh, làm hư hỏng nặng và hất văng người anh xuống nước, khi rơi thì anh bị đập vào vành ghe làm bị đứt dây chằng chân trái, làm chân không cử động được, gọng ghe của anh B đâm vào vành ghe anh dính chặt. Lúc này anh B nhảy qua bên ghe anh để gỡ gọng và đẩy ghe anh B ra khỏi ghe của anh, rồi anh B nói Công an đang tuần tra bảo anh chạy trốn đi rồi sau đó sẽ tính sau. Lúc đó thủy triều xuống, con nước đang cạn ghe không quay về được nên anh điều khiển ghe bằng hai tay cố chạy sang khu vực hướng Bắc của Đầm T3 để tránh công an phát hiện rồi chờ con nước lớn thì quay về. Sáng hôm sau vợ anh là chị Lê Thị T1 gọi điện cho anh Bước ra đưa anh đi khám và điều trị ở Trung tâm chỉnh hình Q, rồi chuyển qua Bệnh viện 38 Lê Lợi, sau khi khám xác định anh bị đứt dây chằng chân trái nên Bác sĩ đề nghị nhập viện điều trị. Khi biết anh bị đứt dây chằng anh Bước không muốn anh nhập viện điều trị mà bảo quay về Trung tâm chỉnh hình băng bột chờ làm xong bảo hiểm mới nhập viện, hoặc dùng bảo hiểm của em trai anh B ở phường Đ, thành phố Q để nhập bệnh viện tỉnh điều trị cho đỡ tốn kém. Vì sợ làm như vậy là trái pháp luật nên anh không đồng ý làm theo yêu cầu của anh B làm giả bảo hiểm, nên anh đến Trung tâm chỉnh hình bó bột, hôm đó anh B trả tiền khám hết gần 3.000.000đ. Tuy nhiên đến ngày hôm sau chân anh đau nhứt nên anh đã nhập viện để điều trị tại Bệnh viện Da liễu, khi đó nói anh B thì anh B nói không làm theo anh thì anh B bỏ mặc, nhưng anh đã nhập viện điều trị từ 07/5/2018 đến 21/5/2018, hẹn 2 tuẩn tái khám. Trong thời gian anh nằm viện thì anh B và gia đình có đến đề nghị thương lượng mỗi bên chịu ½ khoảng 20.000.000đ, nhưng rồi anh B không thực hiện. Trong khi chân anh bị mổ, hiện bị teo cơ không làm được, bác sĩ khám cho rằng phải mổ lại. Từ đó đến nay anh B bỏ mặc nên anh có yêu cầu Công an huyện giải quyết hình sự, nhưng giám định thương tật kết quả tỉ lệ thương tật là 15% nên Công an huyện đã ra Thông báo không đủ yếu tố cấu thành tội phạm và không khởi tố vụ án. Nay anh kiện ra Tòa yêu cầu Tòa án buộc anh B phải bồi thường thiệt hại sức khỏe cho anh với số tiền 89.064.714đ và các hóa đơn thuốc cũng như tiển tổn thất tinh thần, trong đó gồm các khoản chi phí: Chụp MRI 1.800.000đ, tiền điều trị 253.000đ tại Trung tâm chỉnh hình Q; Viện phí Bệnh viện P là 51.725.714đ;Tiền tái khám chụp X Quang 02 lần 188.000đ, khám ngoại 02 lần 78.000đ, tiền thuốc: 1.620.000đ; Tiền xe đi khám và điều trị: 04 dòng x 350.000đ/dòng = 1.400.000đ; Tiền ăn: 50.000đ x 64 ngày x 02 người = 6.400.000đ; Tiền thuốc theo toa của bác sĩ. Tiền thu nhập của anh bị mất, bị giảm sút tính từ ngày 05/5/2018 đến ngày 07/6/2018 là 32 ngày x 2người x 200.000đ = 12.800.000đ, thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị từ ngày 05/5/2018 đến ngày 07/6/2018 là 32 ngày x 2người x 200.000đ = 12.800.000đđ; Tiền tổn thất tinh thần là 10.000.000đ. Ngoài ra anh không có yêu cầu gì khác.

Tại các bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ, biên bản hòa giải và tại phiên tòa hôm nay Bị đơn anh Phạm Đình B trình bày:

Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 05/5/2018 vợ chồng anh có chạy ghe đến khu vực Đầm T3 để chuẩn bị đánh bắt cá, thì lúc này anh nghe tiếng ca nô của Công an giao thông đường thủy đi tuần, nên anh dọn lưới và trốn chạy trốn công an đi tuần, trong khi chạy vì trời tối mà không bật đèn nên anh đã tông vào hông bên trái ghe của anh T ở Thôn L, xã P cũng đang đánh bắt cá cùng trong khu vực này. Khi tông thì mũi ghe của anh đâm xuyên qua bên hông trái ghe anh T, gọng ghe của anh chồng lên ghe anh T, anh và chị T1 vợ anh T đã xô đẩy gỡ rời hai ghe ra rồi anh tiếp tục bỏ chạy trốn công an tuần tra. Nguyên nhân xảy ra sự cố trên là do trời tối, anh không thấy đường, nên đã tông vào ghe anh T, lúc này cả 02 ghe đều không có đèn. Sự việc xảy ra, hậu quả anh T đi nằm viện thì anh và gia đình anh cũng có đến thăm nom nhưng anh không rõ là anh T đã nằm viện bao nhiêu ngày. Bản thân anh T khi hai ghe bị tai nạn thì anh T bỏ mặc, ghe anh bị hư máy, may nhờ người cứu giúp, còn anh T thì lái ghe đi làm đến sáng mới về. Nay anh T yêu cầu anh phải bồi thường thiệt hại sức khỏe cho anh T do bị xâm phạm với số tiền 99.064.714đ thì anh không đồng ý bồi thường mà chỉ hỗ trợ 15.000.000đ, vì anh cho rằng mình không có lỗi, bản thân anh T vẫn còn đi làm đến sáng mới về, anh T bị thương lúc nào anh không biết.

Tại bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ, biên bản hòa giải và tại phiên tòa hôm nay Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị T1 trình bày: Chị thống nhất với ý kiến của chồng chị là anh Nguyễn Văn T đã khai và trình bày ở trên. Nay chị yêu cầu anh B phải bồi thường thiệt hại sức khỏe cho chồng chị số tiền số tiền 89.064.714đ cộng 10.000.000đ tiền bồi dưỡng sức khỏe và các hóa đơn tiền thuốc.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa: Về thủ tục tố tụng Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Đại diệnViện kiểm sát nhân dân huyện Tđề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu của Nguyên đơn vì cả hai bên đều có lỗi, buộc Bị đơn bồi thường cho Nguyên đơn ½ chi phí hợp lệ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Anh T khởi kiện anh Phạm Đình B có nơi cư trú tại Thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định về việc yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bình Định theo quy định tại khoản 6 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đêm ngày 05/5/2018 vợ chồng anh T và vợ chồng anh B cùng đánh cá đêm ở lạch Gò Găng, phía nam Đầm T3 thuộc xã P, huyện T, tỉnh Bình Định. Vì đánh bắt cá trong khu vực không được phép, phải trốn tránh sự phát hiện các lực lượng chức năng nên cả anh T và anh B khi điều khiển ghe không bật đèn sáng trên ghe của mình. Khi anh B thấy có lực lượng chức năng tuần tra kiểm soát trên đầm thì điều khiển ghe chạy trốn, trong lúc chạy trốn thì ghe anh B đã tông vào phần giữa bên trái ghe của anh T, hậu quả anh T bị thương tích đứt dây chằng ở chân trái phải điều trị tại Bệnh viên 38 Lê Lợi từ ngày 06/5/2018 đến ngày 07/5/2018 và điều trị tại Bệnh viện P từ ngày 07/5/2018 đến ngày 21/5/2018. Ngày 08/10/2018 Trung tâm pháp y tỉnh Bình Định có kết luận số: 203/2018/PY-TgT kết luận tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của anh T là 15%. Nay anh T yêu cầu anh B phải bồi thường thiệt hại sức khỏe cho anh số tiền 99.064.714đ và tiền thuốc theo toa.

Hội đồng xét xử xét yêu cầu của anh T về các khoản chi phí hợp lệ cụ thể: Về chi phí điều trị gồm: 1.800.000đ tiền chụp MRI ngày 06/5/2018 và 253.000đ tiền điều trị tại Trung tâm chỉnh hình Q ngày 07/5/2018; Viện phí tại Bệnh viện P là 51.725.714đ; tiền tái khám chụp X Quang 02 lần 188.000đ, khám ngoại 02 lần 78.000đ, tiền thuốc 6.156.000đ có hóa đơn đầy đủ. Quá trình anh T điều trị tại bệnh viện làm anh mất thu nhập thực tế là có thật, theo giấy xuất viện ngày 06/5/2018 và ngày 21/5/2018 là 16 ngày. Sau khi xuất viện về nhà đến nay anh T vẫn còn đang tiếp tục uống thuốc và tái khám và điều trị tại Bệnh viện P ngày 07/6/2018, ngày 25/6/2018 để tiếp tục phục hồi sức khỏe, nhưng anh T chỉ yêu cầu về khoản thu nhập thực tế bị mất trong thời gian nằm viện ngày 06/5/2018 đến 07/6/2018 là 32 ngày nên Hội đồng xét xử chấp nhận thời gian mất thu nhập của anh T là 32 ngày. Tuy nhiên thu nhập của anh T không ổn định, mức anh yêu cầu là cao hơn so với mặt bằng chung ở điạ phương nên HĐXX chấp nhận mức thu nhập bình quân là 150.000đ/ ngày x 32 ngày: từ ngày 06/5/2018 đến ngày 07/6/2018 là 32 ngày x 150.000đ = 4.800.000đ, tiền xe đi lại là 1.400.000đ. Về chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc anh T là chị Lê Thị T1 vợ anh T; chị T1 là lao động chính, chị làm nghề chài cá cũng như anh T. Do đó yêu cầu về chi phí hợp lý phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc bệnh từ ngày 06/5/2018 đến ngày 21/5/2018 là 16 ngày x 150.000đ = 2.400.000đ. Ngoài ra anh T yêu cầu bồi thường 10.000.000đ tiền tổn thất tinh thần là quá cao so với tỷ lệ thương tích của anh nên Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận 03 tháng lương tối thiểu là 4.470.000đ. Như vậy tổng các chi phí là 73.270.714đ, đây là các chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại của anh T.Các chi phí khác không phù hợp với quy định pháp luật nên Tòa không chấp nhận.

Xét về yếu tố lỗi: Trong vụ án này, mặc dù anh Phạm Đình B khẳng định mình không có lỗi, nhưng tại bản khai Cơ quan điều tra Công an huyện T và Phòng Cảnh sát giao thông đường thủy Công an tỉnh Bình Định, cho thấy nguyên nhân gây ra vụ tai nạn là do anh Phạm Đình B điều khiển ghe chạy trốn lực lượng tuần tra nên đã tông vào thân giữa ghe của anh Nguyễn Văn T. Mặc khác vì cả anh T và anh B đều là người làm nghề đánh cá với nhau, tại đêm ngày 05/5/2018 cả hai ghe đều cố ý đánh bắt cá trong khu vực không được phép, nên khi có lực lượng chức năng tuần tra kiểm soát trên đầm, sợ bị phát hiện, cả 02 ghe của anh T và anh B đều không bật đèn sáng, do đó khi anh B điều khiển ghe chạy trốn thì đã tông vào ghe của anh T. Nếu một trong hai bên có đèn sáng thì vụ tai nạn trên chưa chắt đã xảy ra. Như vậy cả anh T và anh B đều có lỗi trong vụ việc này, nhưng thiệt hại xảy ra đối với anh T thì bản thân anh T cũng có lỗi nên phải tự gánh chịu một phần. Phần còn lại buộc anh B phải bồi thường cho anh T.

Tổng giá trị chi phí điều trị và mức bồi thường tổn thất tinh thần hợp lý trong vụ án này được HĐXX chấp nhận là 73.270.714đ. Do đó Hội đồng xét xử buộc anh B phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho anh T số tiền là: 36.635.000đ.

Đối với số tiền 3.200.000đ anh B đã chi khám chữa bệnh ban đầu cho anh T, không nằm trong chi phí điều trị anh T xuất trình, anh B không yêu cầu nên Tòa không xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của anh T được chấp nhận một phần nên anh B phải chịu mức án phí tương ứng với 5% nghĩa vụ phải bồi thường để nộp vào Ngân sách Nhà nước.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng vào khoản 6 Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26, điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận một phần “Yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm” của anh Nguyễn Văn T.

Buộc anh Phạm Đình B phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại sức khỏe cho anh Nguyễn Văn T số tiền 36.635.000đ (Ba sáu triệu sáu trăm ba mươi lăm ngàn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền như án đã tuyên, hàng tháng bên thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Về án phí: Buộc anh Phạm Đình B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 1.831.000đ (Một triệu tám trăm bai mươi mốt ngàn đồng) sung vào Ngân sách Nhà nước.

Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 12/9/2019.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ