vanban.org

Bản án 87/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Tiến Đ phạm tội Cố ý gây thương tích.

Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Tiến Đ 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Tiến Đ - cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Tiến Đ phạm tội Cố ý gây thương tích.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87/2026/HS-ST
Ngày 28-4-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Lan Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh

Bà Trần Thị Đẹp

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Xuân - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 15- Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 15- Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Mai Hường - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân Khu vực 15- Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 65/2026/HSST ngày 11 tháng 3 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2026/QĐXXST-HS ngày 08/4/2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 67/2026/QĐST-HS ngày 21/4/2026 đối với bị cáo:

Lê Tiến Đ, sinh năm 2005; tại Thành phố Hồ Chí Minh; Căn cước công dân số 074205001967 cấp ngày 13/4/2021; giới tính: Nam; Nơi thường trú và nơi cư trú: Số D đường L, khu phố P, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thành L và bà Phan Thị Thái D; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/10/2025 đến nay, có mặt.

- Bị hại: Anh Lê Hoàng Xuân Đ1, sinh năm 2004; địa chỉ: Tổ B đường A, phường X, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng (nay là phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng), có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Luật sư Văn Quang T - Công ty L1, có mặt.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn A, có mặt; anh Trần Văn D1, chị Nguyễn Thị Kiều D2, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 16/6/2025, anh Trần Văn D1 cùng Lê Hoàng Xuân Đ1, Nguyễn Văn A, Nguyễn Thị Kiều D2 ăn, uống bia tại quán nhậu Về Đêm, tại đường L, khu phố P, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 17/6/2025, A gọi điện rủ Lê Tiến Đ ra ăn uống cùng cả nhóm. Trong lúc ăn uống, Lê Tiến Đ mời Lê Hoàng Xuân Đ1 uống bia nhưng Lê Hoàng Xuân Đ1 từ chối nên hai bên xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau dẫn đến xô xát. Lê Hoàng Xuân Đ1 đứng dậy dùng tay phải đánh về hướng vùng cổ của Lê Tiến Đ, Tiến Đ dùng tay đỡ và cầm ly thủy tinh đánh vào vùng đầu của Lê Hoàng Xuân Đ1 nhiều cái, Lê Tiến Đ tiếp tục chạy ra xe để ở bên hông của quán lấy 01 con dao tự chế bằng kim loại dài khoảng 55cm chạy vào chém 01 nhát vào vùng bụng, 01 nhát vào vùng mạn sườn trái, 01 nhát vào vai phải của Lê Hoàng Xuân Đ1. Trong lúc hai bên giằng co, lưỡi dao rơi ra, Tiến Đ tiếp tục dùng cán dao đánh vào vùng má, miệng của Xuân Đ1 làm Xuân Đ1 gãy 02 cái răng sau đó Lê Tiến Đ bỏ chạy về hướng đường L. Lê Hoàng Xuân Đ1 được mọi mười đưa đến Bệnh viện Đ3, sau đó Xuân Đ1 đến Công an phường P trình báo sự việc, yêu cầu giám định thương tích và khởi tố vụ án hình sự đối với Lê Tiến Đ.

Tại Giấy chứng nhận thương tích số 193/2025 ngày 09/7/2025 của Bệnh viện Đ3 xác định: Lê Hoàng Xuân Đ1 vào viện lúc 06 giờ 45 phút ngày 17/6/2025, ra việc lúc 08 giờ 45 phút ngày 17/6/2025.

- Tình trạng thương tích lúc vào viện: Bệnh tỉnh, G 15 điểm, tri giác tốt. Tiếp xúc tốt, không ói; vết thương vùng đầu #3cm chảy máu; vết thương rải rác<0.5cm khoảng 06 vết thương xung quanh đầu; vết thương môi trên #0.5 cm, sưng nề môi dưới; vết trầy da vùng má 2 bên; vết bầm vùng ngực trước, hông trái, bụng, mặt sau đùi trái, chấn thương vùng môi trên, dưới, gãy 1/3 thân R11, mẻ cạnh cắn R43.

- Tình trạng lúc ra viện: Bệnh tỉnh, G 15 điểm, tri giác tốt. Tiếp xúc tốt, không ói; vết thương vùng đầu #3cm đã khâu cầm máu; vết thương rải rác<0.5cm khoảng 06 vết thương xung quanh đầu; vết thương môi trên #0.5 cm, sưng nề môi dưới; vết trầy da vùng má 2 bên; vết bầm vùng ngực trước, hông trái, bụng, mặt sau đùi trái, chấn thương vùng môi trên, dưới, gãy 1/3 thân R11, mẻ cạnh căn R43.

Tại Giấy chứng nhận thương tích số 6944/CNTT ngày 16/7/2025 của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đ3 xác định: Lê Hoàng Xuân Đ1 vào viện lúc 20 giờ 45 phút ngày 19/6/2025, ra việc lúc 08 giờ ngày 26/6/2025.

Tình trạng thương tích lúc vào viện: Bệnh tỉnh, tiếp xúc được, GCS 15 điểm, tim đều, phổi thô, bụng mềm. Đau vai (P), vận động tay (P) được, mạch quay (P) rõ. Xây sát má (T), khớp cắn đúng, há miệng bình thường, đau nhẹ trước tai (T), xây sát môi trên, môi dưới, gãy thân R11. Xquang vai (P) chưa phát hiện tổn thương xương. CT Scan sọ não: Máu tụ ngoài màng cứng thái dương (T).

Tình trạng thương tích lúc ra viện: Bệnh tỉnh, tiếp xúc tốt, da niêm hồng, không yếu liệt chi, tim đều, phổi thô, bụng mềm. Các vết thương lành.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 78/2025/KLGĐ-TTPY ngày 27/8/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh B đối với Lê Hoàng Xuân Đ1 kết luận:

Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 09% (Chín phần trăm).

Cơ chế hình thành thương tích:

- Vết thương đầu vùng đỉnh chẩm trái: Sẹo có bờ sắc gọn, khả năng do vật sắc gây ra.

- 06 vết thương xây xát da vùng đầu, xây xát da má trái: Các vết thương có bờ tương đối gọn, khả năng do vật có cạnh sắc gây ra.

- Xây xát da môi trên + môi dưới, gãy răng R11: Vết thương có bờ không sắc gọn, khả năng do vật tày gây ra.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H thu giữ 01 lưỡi dao tự chế dài khoảng 55cm bằng kim loại là công cụ Lê Tiến Đ sử dụng để thực hiện hành vi gây thương tích cho Lê Hoàng Xuân Đ1.

Trong quá trình điều tra bị cáo Lê Tiến Đ khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị hại Lê Hoàng Xuân Đ1 khai nhận nội dung vụ án phù hợp với lời khai nhận của bị cáo.

Về trách nhiệm hình sự: Bị hại Lê Hoàng Xuân Đ1 yêu cầu giải quyết theo quy định pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Hoàng Xuân Đ1 yêu cầu bị cáo Lê Tiến Đ bồi thường tổng số tiền 152.436.077 đồng, gồm: 32.436.077 đồng tiền thuốc và điều trị thương tích, 9.000.000 đồng chi phí thuê xe đi lại và 11.000.000 đồng chi phí của người nuôi dưỡng, chăm sóc; 100.000.000 đồng tổn thất tinh thần.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại thống nhất yêu cầu của bị hại.

Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại chi phí tiền thuốc và điều trị 32.436.000 đồng, chi phí và tiền xe đi lại của người nuôi dưỡng, chăm sóc 20.000.000 đồng. Đối với tiền tổn thất tinh thần bị cáo không đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Cáo trạng số 122/CT-VKSTDM ngày 10/3/2026 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Lê Tiến Đ về tội Cố ý gây thương tích, theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh trong phần tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Tiến Đ từ 09 tháng đến 01 năm tù

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại phần tranh luận, bị cáo Lê Tiến Đ không tranh luận với Kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt và mức hình phạt đã đề nghị.

Bị hại và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại không tranh luận.

Trong phần trình bày lời nói sau cùng, bị cáo Lê Tiến Đ đã nhận thấy hành vi của mình là sai trái, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Tiến Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản lấy lời khai của bị hại, người làm chứng; kết luận giám định pháp y cùng những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 02 giờ ngày 17/6/2025 tại quán nhậu Về Đ2, tại đường L, khu phố H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh), trong lúc uống bia Lê Tiến Đ và Lê Hoàng Xuân Đ1 xảy ra cự cãi, Lê Hoàng Xuân Đ1 dùng tay đánh Tiến Đ nên Tiến Đ đã dùng 01 ly thủy tinh và 01 con dao tự chế bằng kim loại dài khoảng 55cm đánh, chém Lê Hoàng Xuân Đ1 gây thương tích, với tỷ lệ tổn thương cơ thể hiện tại là 09% (chín phần trăm).

Bị cáo Lê Tiến Đ đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thương tích, theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Lê Tiến Đ theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi bị cáo Lê Tiến Đ đã thực hiện trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì hung hăng nên đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do vậy, để có tác dụng giáo dục bị cáo, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng răn đe đối với bị cáo đồng thời phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sự việc xảy ra có một phần lỗi của bị hại đã dùng tay đánh bị cáo trước khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị cáo Lê Tiến Đ đồng ý bồi thường cho bị hại chi phí tiền thuốc và điều trị 32.436.000 đồng, chi phí và tiền xe đi lại của người nuôi dưỡng, chăm sóc 20.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Căn cứ Giấy chứng nhận thương tích và tỷ lệ tổn thương cơ thể của bị hại 9%, sự việc sảy ra có một phần lỗi của bị hại nên Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại tiền tổn thất tinh thần tương ứng 10 tháng lương tối thiểu x 2.340.000 đồng/tháng là 23.400.000 đồng.

Tổng số tiền bị cáo phải bồi thường cho bị hại là 75.836.000 đồng.

Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp.

Về xử lý vật chứng: 01 lưỡi dao tự chế bằng kim loại dài 55cm là công cụ phạm tội không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phạm tội, bị kết án và phải bồi thường dân sự nên phải chịu án phí theo quy định tại Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 136, 260, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Tiến Đ phạm tội Cố ý gây thương tích.

2. Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Tiến Đ 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 586, 590 của Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Lê Tiến Đ bồi thường cho bị hại Lê Hoàng Xuân Đ1 tổng số tiền 75.836.000 đồng (bảy mươi năm triệu tám trăm ba mươi sáu nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 01 lưỡi dao tự chế bằng kim loại dài 55cm.

5. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Tiến Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 3.791.800 đồng (ba triệu bảy trăm chín mươi mốt nghìn tám trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ