vanban.org

Bản án 87/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Kim O được ly hôn với ông Trần Văn T.

Về con chung: Giao cháu Trần Thị Ngọc Hồng, sinh ngày 24/5/2019 và Trần Thanh Quân, sinh ngày 23/10/2020 cho ông Trần Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Kim Oanh - Trần Văn Thành"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Kim O được ly hôn với ông Trần Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10 - ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 87/2026/HNGĐ-ST
Ngày 06/02/2026
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - ĐÀ NẴNG

- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Tám

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Đình Lục và ông Lê Trung Thiêng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Huỳnh Tiểu Luận– Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 – Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tường Vi - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 02 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 177/2025/TLST-HNGĐ ngày 07/10/2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 188/2025/QĐXX-ST ngày 31 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Kim O, sinh năm: 1999. CCCD số xxxxxxxxxxxx.

Địa chỉ: Khối phố Tỉnh Thuỷ, phường Quảng Phú, T phố Đà Nẵng.

- Bị đơn: ông Trần Văn T, sinh năm: 1990

Địa chỉ: Khối phố Giang Tắc, phường Điện Bàn Đông, T phố Đà Nẵng.

Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện lập ngày 07/10/2025, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim Otrình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim O và ông Trần Văn T tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tam Thanh, TP. Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (nay là phường Quảng Phú, T phố Đà Nẵng) vào năm 2018. Vợ chồng chung sống nhưng không hợp tính tình, thường xuyên cả vả, bất đồng quan điểm, nhiều lần bà bị tác động vật lý. Bà đã cố gắng hòa giải nhưng không đạt được. Vì vậy, bà O yêu cầu Tòa giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Văn T.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Trần Thị Ngọc Hồng, sinh ngày: 24/5/2019 và Trần Thanh Quân, sinh ngày: 23/10/2020

Khi ly hôn bà Nguyễn Thị Kim O có nguyện vọng giao 02 cháu Hồng, Quân cho ông Trần Văn T nuôi dưỡng, chăm sóc và không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Không yêu cầu Toà giải quyết.

Đối với bị đơn ông Trần Văn T:

Ngày 14/10/2025, Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Đà Nẵng đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý số 171/2025/TLST-HNGĐ ngày 06/10/2025 cho ông Trần Văn T theo đúng trình tự thủ tục.

Hết thời hạn 15 ngày theo quy định tại điều 199 BLTTDS ông Trần Văn T không có văn bản trả lời ý kiến về yêu cầu khởi kiện của bà O cũng như văn bản xin gia hạn thời hạn trả lời theo quy định.

Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng ông Trần Văn T không đến Tòa án tham gia các phiên hòa giải nên vụ án không thể tiến hành hòa giải theo quy định.

Vì vậy Tòa án căn cứ vào các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Ý kiến Kiểm sát viên:

Về việc tuân theo pháp luật: Toà án cấp sơ thẩm đã thụ lý và Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đảm bảo kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án; bị đơn ông Trần Văn T không chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Nguyễn Thị Kim O được ly hôn với ông Trần Văn T; giao cháu Trần Thị Ngọc Hồng, sinh ngày: 24/5/2019 và Trần Thanh Quân, sinh ngày: 23/10/2020cho ông Trần Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án gồm:

- 01 bản chính Giấy đăng ký kết hôn;

- 02 bản sao Giấy khai sinh của con;

- 01 bản sao Căn cước công dân;

- Biên bản xác minh của Tòa án;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Bà Nguyễn thị Kim O có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Trần Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan nên theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông T và bà O

Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim Ovà ông Trần Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn nên hôn nhân của bà O, ông T là hợp pháp.

Theo lời trình bày của bà O thì mâu thuẫn vợ chồng là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không hòa hợp. Quá trình tố tụng, ông T đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có ý kiến phản hồi, không thể hiện mong muốn được hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy tình trạng hôn nhân vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim O, cho bà Nguyễn Thị Kim O được ly hôn với ông Trần Văn T.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Trần Thị Ngọc Hồng, sinh ngày: 24/5/2019 và Trần Thanh Quân, sinh ngày: 23/10/2020.

Mặc dù ông T không thể hiện ý kiến và nguyện vọng về việc nuôi con nhưng hiện nay 02 con chung đang ở cùng với ông, bà O có nguyện vọng giao con cho ông T. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi của con, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao con chung cho ông Trần Văn T nuôi dưỡng là phù hợp.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung vợ chồng: Bà O không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim O phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84, 85 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Kim O được ly hôn với ông Trần Văn T.

2. Về con chung:

Giao cháu Trần Thị Ngọc Hồng, sinh ngày 24/5/2019 và Trần Thanh Quân, sinh ngày 23/10/2020 cho ông Trần Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Người trực tiếp nuôi con không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.

Khi cần thiết, bà O, ông T có quyền làm đơn xin thay đổi việc nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm bà Nguyễn Thị Kim O phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà O đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003013 ngày 07/10/2025 của Thi hành án dân sự T phố Đà Nẵng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết hợp lệ bản án.

Cỡ chữ